XÓC CHÉO - TRUYỆN MA NAM BỘ

 


XÓC CHÉO

Truyện ma Nam Bộ - Tác giả Lê Quang Thanh Tâm

Nằm ở đầu nguồn sông Hậu, An Giang là vùng đất nhập vào Đại Nam khá muộn, nhưng từ lâu đã quen với nhịp con nước từ Biển Hồ tràn về mỗi năm. Mùa nước nổi đến, đồng trắng mênh mang đến tận chân trời; những mái nhà sàn cao nép bên mé lộ hoặc dọc theo các con rạch lớn. Nước dâng ba bốn mét, người dân đi lại bằng xuồng ghe là chính, bơi xuồng giăng câu, đặt lờ. Có khi đang neo xuồng nghỉ dưới tán cây, họ vẫn giật mình bởi những chiếc quan tài lấp ló trên những giàn gỗ trước mặt.

Ở vùng đất ấy, khi nước đã ngập trắng đồng, chỉ còn thấy xa xa những dãy núi, người chết phải được đặt trên giá gỗ giữa đồng nước, đợi đến khi nước rút, đất khô mới đem chôn. Tục ấy gọi là “xóc chéo”. Dân Chăm, Việt, Minh Hương… ai sống ở đây cũng đều trải qua những mùa nước như thế mà thành quen.

Người Chăm ở An Giang quần tụ thành từng xóm dọc bờ sông Hậu: Châu Giang, Châu Phong, Đa Phước, Nhơn Hội, Quốc Thái… Họ theo đạo Hồi và giữ luật ăn ở nghiêm, kiêng thịt heo; đàn ông đội khăn, phụ nữ che mạng. Họ sống chan hòa với người Việt, Minh Hương và người Miên đã định cư lâu đời trên đất Tầm Phong Long xưa.

Chiều nước lớn, sương bảng lảng trên mặt sông; tiếng cầu kinh từ ngôi thánh đường nhỏ vang lên trầm đều, như mạch thở của cả xóm Chăm yên bình giữa bốn bề phù sa bồi đắp.

Thuở ấy, đất An Giang mới thuộc về nhà Nguyễn chưa lâu. Dân cư còn thưa, thú rừng nhiều: cọp, rắn, cá sấu, trâu rừng… đều đủ cả. Heo rừng là nhiều nhất, đường heo rừng ủi chạy ngoằn ngoèo giữa rừng chồi.

Gia đình ông Năm Chà, một tín đồ Hồi giáo mộ đạo, sống trong căn nhà sàn bên bến Châu Giang. Ông có hai con: một trai, một gái. Con trai đã lập gia đình. Cô con gái út, dân quanh gọi là con Ba, nổi tiếng hiền và đẹp, gương mặt tròn phúc hậu, da bánh mật, mắt đen sâu như mặt nước chiều.

Ngày ngày, con Ba cùng mẹ dệt vải, nấu bếp, giữ nếp nhà. Trong xóm ai cũng quý mến con Ba.

Năm 1833, loạn Lê Văn Khôi nổi lên, chiếm thành Châu Đốc. Nhà Nguyễn điều binh đánh dẹp, Án sát Bùi Văn Lý mới lấy lại được tỉnh thành. Loạn chưa yên, cuối năm quân Xiêm từ đường sông lại tràn vào. Xứ sở xáo xác, đời sống thêm khó khăn, người dân bắt đầu tản cư khắp nơi.

Đúng mùa nước nổi năm ấy, nước đổ về nhanh như tràn bờ. Con Ba bị cơn sốt rét ác tính đánh quỵ, rồi mất trong vòng vài ngày. Nhà sâu trong vùng nước ngập lênh láng, ông Năm Chà đành đặt xác con Ba lên giàn gỗ ở khu nhà phía sau, "xóc chéo", đợi đến mùa xuân khi nước rút mới yên mồ yên mã theo phong tục Hồi giáo.

Ngay lúc ấy, giặc Xiêm kéo đến từ các phía biên cương, ai cũng khiếp vía bởi sự tàn ác của Xiêm ăn sâu vào hồi ức. Cả làng Chăm Châu Giang cũng như những làng mạc khác phải xuồng ghe chạy lánh nạn; ông Năm Chà dắt vợ và vợ chồng thằng con trai, bỏ lại ngôi nhà sàn trống với linh hồn trẻ vừa khuất. Xóm chìm vào im lìm rợn ngợp. Ban đêm, cả một khu vực rộng mênh mông chỉ có nước và bóng đêm. Tiếng chim kêu, cọp gầm, vượn hú trên núi xa vọng về vẫn nghe đến rợn người.

---

Một đêm, từ dòng nước chảy ròng rã, có chiếc thuyền nhỏ trôi dạt đến. Trên thuyền là một người lính trẻ bị thương, áo trận rách nát, mặt tái nhợt nhưng nhân dáng vẫn oai phong và đẹp trai. Chàng tên Nguyễn Thân, quân của tướng Trương Minh Giảng, vừa giao chiến ở Vàm Nao.

Thuyền tấp vào mé nhà ông Năm Chà. Nguyễn Thân cố gượng leo lên bậc sàn, nhưng vừa chạm mép gỗ đã gục xuống bất tỉnh.

Khi tỉnh lại, chàng nghe tiếng lửa reo khẽ dưới bếp. Một bóng thiếu nữ Chăm đang cúi nhóm lửa. Nắng chiều hắt qua khe sàn, soi dáng nàng mảnh dẻ mà thanh sạch kỳ lạ. Thiếu nữ bước đến bên chàng, đưa chén thuốc:

“Anh uống đi cho mau khỏe…”

Giọng nhẹ như hơi gió lùa qua sậy.

Nguyễn Thân đón chén thuốc, uống xong thì thân thể ấm dần, đau đớn cũng lịm đi như chưa từng bị thương. Chàng ngạc nhiên:

“Cô… ở đây một mình sao?”

Cô gái mỉm cười:

“Cha má em đi lánh nạn. Vài tuần nữa mới về. Anh cứ nghỉ dưới nhà này.”

Từ hôm ấy, ngày hai bữa nàng lo cơm nước, thuốc thang. Tối đến, đèn dầu leo lét, nàng kể chàng nghe về sông Hậu, về thánh đường, về mùa nước nổi và lối sống của đồng bào Chăm.

Chàng nghe mà thấy lòng dịu lại.

---

Đến ngày thứ ba, sức Nguyễn Thân hồi hẳn. Nhưng có điều khiến chàng lạ: từ lúc trôi dạt vào đây, ngoài cô gái, không thấy bóng ai khác xung quanh, hầu như vắng lặng, cũng không nghe tiếng cầu kinh mỗi chiều của mái nhà thờ Hồi giáo.

Đêm mới thật sự kinh hoàng, xung quanh chàng là bóng đêm, chỉ có ánh đèn leo lét nơi mái nhà cô thiếu nữ. Tất cả thật âm u và cô quạnh. Tiếng gió đêm từ bãi sậy thổi dài như tiếng thở người.

Nhà sàn rộng mà vắng đến mức nghe rõ tiếng nước lách tách dưới gầm.

Những buổi sáng, dù tia ánh mặt trời loang loáng trên mặt sông, nhưng trong nhà vẫn âm u, lành lạnh. Hôm ấy, khi cô gái nhóm bếp, Nguyễn Thân bước ra sau hong nắng. Từ trên sàn nhà hiên nhìn xuống phía nhà sau, chàng thấy có một giá gỗ lớn, bắt chéo nhau, phủ vải trắng.

Một luồng hơi lạnh chạy dọc sống lưng.

Tấm vải khẽ phập phồng, như có vật gì động đậy.

Trong trí chàng vụt hiện lời dân các vùng từng đến địa phương này kể:

“Mùa nước nổi, không còn đất, thì người chết để trên giàn… tục xóc chéo đó.”

Chàng lùi lại. Đúng lúc ấy, cô gái bước đến sau lưng:

“Anh Thân… sao anh xuống đây?”

Giọng thiếu nữ vẫn nhẹ, nhưng nghe xa xăm lạ lùng.

“Tôi thấy… bên kia hình như có…”

Thiếu nữ ngắt lời nhanh:

“Đừng nhìn. Người lạ… không nên hỏi.”

Gương mặt nàng lạnh lùng khi nói.

---

Đêm ấy, gió hun hút. Nguyễn Thân trở mình mãi không ngủ. Đến canh ba, bỗng có tiếng chân khẽ như người đi trên nước, rồi tiếng chim cú kêu, tiếng vượn hú… rồi có tiếng bước chân nặng nề kéo lê trên sàn gỗ.

Chàng nín thở.

Tiếng ấy dừng lại ngay bên phía gian nhà đặt giàn xóc chéo.

Bỗng…

Cộp.

Một vật gì rơi lên sàn phía sau lưng.

Nguyễn Thân mở mắt.

Đứng giữa cửa buồng là… cô gái.

Tóc nàng xõa kín mặt, ướt đẫm, nhỏ giọt tách… tách… xuống sàn gỗ.

Giọng nàng trầm, như từ nơi xa vọng lại:

“Anh… còn muốn biết phía đó có gì không…?”

Nước chảy thành vệt dưới chân nàng.

Nguyễn Thân tái mặt, hoảng hốt, ùa chạy và phóng xuống chiếc thuyền đã đưa mình cặp bến, chàng cố thoát, cố cho thuyền ra xa, nhưng bốn bề là nước, chàng chẳng biết hướng nào để đi.

Trời nổi cơn sấm chớp dữ dội, gió và mưa như trút nước, con thuyền chao đảo, không điều khiển được mà tự quay thẳng về phía nhà sàn. Khi gần cặp mép nhà, nó chậm dần và tự ngừng hẳn.

Dường như có một lực vô hình nào đó, nhấc bổng Nguyễn Thân, đặt chàng vào gian nhà cũ, nơi chàng từng trú bệnh.

Nguyễn Thân nhìn xung quanh, không thấy ai. Lấy lại can đảm, Nguyễn Thân quyết định ở lại tiếp, mà thật ra, có muốn đi cũng chẳng thể quay đầu.

Mệt quá, Nguyễn Thân ngủ thiếp lúc nào không biết.

Nguyễn Thân tỉnh giấc khi mùi thức ăn ngon xộc lên mũi.

Một mâm cơm có cà ri nị, cá khô… Nguyễn Thân ăn ngon lành, có cảm giác như đói từ bao kiếp.

Trong lòng chàng lúc đó, nỗi sợ nhường chỗ cho lòng biết ơn và thứ tình cảm mơ hồ mà sâu sắc.

Trời vừa chập choạng tối, thiếu nữ Chăm xuất hiện. Nàng đưa tay gạt mái tóc ướt sương sang một bên. Một gương mặt quen thuộc hiện ra, vẫn là gương mặt xinh đẹp mà mấy ngày qua chàng đã cảm mến, nhưng giờ đây phảng phất một sắc thái mờ nhạt, ánh mắt như chứa sương lạnh và nỗi buồn xa xăm.

“Đừng sợ… Em không hại anh đâu. Anh không thể đi lúc này, đợi nước rút đã.”

Giọng nàng trầm lắng, nhẹ như hơi gió cuối ngày, mà Nguyễn Thân nghe thấy trong từng nhịp thở của mình. Chàng im lặng, trái tim chợt thắt lại. Lúc này, Nguyễn Thân mới thực sự nhận ra: dù nàng là gì, là ma, không còn trọn vẹn trên cõi đời, ân tình nàng dành cho mình lại cao quý và sống động hơn cả những người còn ở thế gian.

Bao bữa cơm, chén thuốc… đều là của một người đã khuất. Nguyễn Thân đứng lặng giữa căn nhà sàn im ắng, lắng nghe nhịp tim của chính mình và âm vang nhè nhẹ của cơn gió rừng. Nỗi sợ ban nãy đã nhường chỗ cho một cảm giác vừa thương vừa xót xa, vừa trân trọng. Trong đầu chàng, câu hỏi cứ vang lên: "Ma mà tốt và đẹp hơn người, liệu có phải con người thường vô tình làm đau nhau, còn những linh hồn lại biết thương mà không cần quyền lợi hay dục vọng?"

Nguyễn Thân nhìn nàng hồi lâu, rồi khẽ hỏi, giọng trầm và chân thành:
“Em… kể cho anh nghe đi. Vì sao em còn ở lại chốn này?”

Thiếu nữ cúi mặt. Làn gió đêm thoảng qua làm tóc nàng khẽ lay, giọng nói mỏng như tơ nhưng run rẩy:
“Em… chết vì sốt rét. Nước năm nay lên cao sớm quá… Cha má không còn đất để chôn nên… đành xóc chéo em trên giàn gỗ sau nhà.”

Nguyễn Thân siết chặt tay lại, không nói gì, chỉ nhìn nàng bằng ánh mắt xót xa.

Thiếu nữ tiếp lời, từng tiếng như thấm vào bóng tối:
“Em chưa siêu thoát… vì còn ba điều vương vấn.”

Nguyễn Thân nhẹ nhàng hỏi, giọng ấm áp:
“Ba điều… là những gì khiến em đau lòng đến vậy?”

Thiếu nữ hít một hơi thật dài, đôi mắt long lanh như chuẩn bị tan vào bóng nước:
“Thứ nhất… là một lời cha chưa kịp dặn em trước lúc đi lánh nạn.”

Một giọt nước mắt như sương long lanh rơi khỏi hàng mi nàng.

“Thứ hai… là nỗi nhớ má. Em nhớ lắm… nhớ đến đau cả cõi lòng.”

Nàng ngập ngừng thật lâu, rồi nói khẽ, nhỏ đến mức như tiếng lá cọ vào nhau trong gió:
“Và thứ ba… là một người em… em chưa từng được gặp trong duyên sống này.”

Nguyễn Thân đứng lặng người. Trong khoảnh khắc ấy, chàng cảm thấy mình nghe được cả những điều nàng không nói: nỗi cô độc, sự vương vấn, và cả một kiếp người bị dang dở giữa mùa nước nổi.

“Anh đến… như một phép màu cuối cùng,” nàng thổn thức.

Nguyễn Thân khẽ đáp, giọng nghẹn ngào:
“Nếu có thể, ta muốn gặp em sớm hơn… để cứu em khỏi cái chết ấy.”

Thiếu nữ lắc đầu, nụ cười buồn mênh mang như biển chiều:
“Không ai cứu được đâu. Nhưng anh làm em thấy… không cô độc.”

Khoảnh khắc ấy, giữa bóng tối và ánh sáng nhạt của đèn dầu, Nguyễn Thân chợt nhận ra một chân lý: tình cảm không chỉ dành cho những người còn sống; những linh hồn dù đã khuất vẫn có thể khiến trái tim rung động, vẫn biết sẻ chia, vẫn biết yêu thương. Có lẽ, đôi khi ma còn biết quý trọng con người hơn con người biết quý trọng nhau.

Từ đó, họ không còn sợ nhau. Mỗi tối, cả hai cùng ngồi bên nhau. Họ kể nhau nghe chuyện đời, chia sẻ những mảnh ký ức: nàng kể chuyện dệt vải, mùa lễ hội Chăm; chàng kể chuyện chiến trận với quân Xiêm, chuyện mẹ già ở Gia Định. Họ không thể chạm vào nhau, nhưng chỉ một ánh nhìn cũng khiến lòng người thắt lại, như đang kết nối hai thế giới song song: một bên sống, một bên đã khuất, nhưng cùng rung động trước cùng một cảm xúc.

Trong những đêm yên tĩnh, Nguyễn Thân nhận ra rằng đôi khi tình thương không biên giới: nó vượt cả sinh tử, vượt cả thế gian. Ma và người, tưởng chừng cách xa, lại có thể đồng điệu trong một khoảnh khắc, để hiểu nhau, để cảm nhận sự sống và cái chết cùng một nhịp thở.

---

Ba tháng trôi. Nước bắt đầu rút. Ánh mặt trời sáng rực cả một vùng quê. Nhưng nàng càng xanh xao và yếu đuối hơn.

Một chiều, có tiếng chèo, tiếng người huyên náo, dân Chăm khắp nơi kéo về lại làng. Ông Năm Chà và gia đình cũng quay lại. Từ xa, họ gọi mừng:

“Con Ba ơi! Nhà mình về rồi!”

Nguyễn Thân mừng cho nàng. Nhưng quay lại thì… thiếu nữ không còn đó. Không còn mơ hồ như sương, không còn bên cửa buồng, không còn bên bếp nhỏ.

Ông Năm Chà và vợ bước nhanh đến giàn "xóc chéo". Họ mở tấm vải trắng.

Nguyễn Thân nhìn từ xa, tim co thắt.

Trên giá gỗ đơn sơ là thi thể người thiếu nữ Chăm, nguyên vẹn như khi mất: khăn trắng quấn đầu, áo Chăm còn đó, gương mặt an tĩnh.

Ông Năm quay lại, thấy Nguyễn Thân, ngạc nhiên hỏi:

“Cậu là ai mà ở đây?”

Nguyễn Thân nghẹn:

“Dạ… nhờ cô Ba cứu, con mới sống…”

Rồi Nguyễn Thân kể lại chuyện mấy tháng nay cho ông Năm Chà và gia đình nghe. Ông bà và mọi người lặng đi. Mắt họ ngấn nước.

---

Đất đầu xuân đã ráo, nắng hiền như trải mật xuống bến Châu Giang. Làng Chăm làm lễ mai táng cho con Ba. Họ tắm xác nàng bằng nước hoa dứa thơm dìu dịu, thay áo mới, quấn khăn trắng, rồi đọc kinh cầu nguyện. Người làng đứng đông, nhưng ai nấy đều lặng như nín thở, sợ làm xao động sự bình yên cuối cùng của cô gái đã trải qua một mùa nước nổi cô độc.

Khi linh cữu từ từ hạ xuống lòng đất, gió bến Châu Giang bỗng nổi lên. Không mạnh, không dữ, mà mềm như bàn tay ai chạm nhẹ. Trong làn gió ấy, dậy lên mùi phù sa ấm và hương hoa dứa thoảng: mùi mà Nguyễn Thân đã quen trong những đêm được nàng bên bếp nhỏ thức vì mình.

Rồi từ khoảng không mờ nắng ấy, một âm thanh mỏng như hơi thở, như tiếng nước rơi từ mái lá xuống dòng sông, khẽ vọng ra:

“Anh Thân…”

Nguyễn Thân giật mình ngẩng lên. Giữa triền nắng đầu xuân, có một bóng áo trắng đứng đó, mờ dịu như sương mai, thanh thoát như chưa từng thuộc về cõi chết. Nàng nhìn chàng, ánh mắt trong trẻo, bình an lạ lùng. Nụ cười sau cuối, nhẹ như lời cảm tạ, như một niềm vương vấn đã trọn.

Chỉ kịp để lại một dải sáng mong manh, nàng tan dần vào nắng, vào gió, vào khoảng trời bát ngát đang mở ra cho những linh hồn đã thôi bám víu cõi trần.

---

Sau lễ tang, Nguyễn Thân thu xếp rời xóm làng Chăm. Trên bến sông, chiếc thuyền nhỏ buộc dây nằm yên, chờ chàng như đã chờ từ tháng nào. Trước khi đặt chân xuống, Nguyễn Thân quay lại.

Căn nhà sàn của ông Năm Chà đứng lặng trong nắng tàn, mái lá vẫn còn ươm lại mùi gió mùa nước nổi. Giàn “xóc chéo” phía sau nhà trống trơn, tấm vải trắng đã được cuốn đi, chỉ còn mấy thanh gỗ mục trơ vơ như dấu tích của một kiếp người lỡ dở.

Cả xóm Chăm vẫn còn vương màu buồn của mùa nước rút: đường đất khô nẻ, bến sông vắng người, những ngọn thốt nốt lắc nhẹ theo gió như cúi đầu tiễn biệt.

Nguyễn Thân đứng hồi lâu, lòng nghẹn lại.

“Nếu có kiếp sau…” - chàng tự nhủ trong hơi thở - “ta xin tìm lại nàng. Dù nàng ở trong cõi nào… ta cũng muốn gặp lại một lần.”

Chàng bước xuống thuyền.
Mái chèo khua chậm. Nước sông Hậu tách đôi thành hai vệt sáng, đẩy con thuyền trôi đi.

Châu Giang lùi dần. Màu trời càng xa càng nhòe như nét mực loang. Trên cao, vài cánh chim chao mình qua núi Sam, kêu dài một tiếng thê thiết, như đưa tiễn một mối duyên vừa chớm đã tan.

Nguyễn Thân trở về Gia Định, quay lại với bụi đường, với tiếng binh đao, với đời người đông đúc. Nhưng những náo nhiệt nơi cõi sống dường như không chạm vào trái tim chàng nữa.

Bởi trái tim ấy…
đã để lại ở bến Châu Giang,
ở căn nhà sàn còn mùi hoa dứa,
ở giàn "xóc chéo" buồn thiu sau mùa nước nổi,
và ở một thiếu nữ Chăm - người con gái đã xuất hiện giữa lúc sinh tử giao mùa, để rồi ra đi như một ánh sáng nhỏ giữa đời.

Từ đó trở đi, dù chàng có đi đến đâu, mỗi khi nhớ lại mùa nước nổi năm ấy… lòng vẫn nghe một tiếng gọi khẽ trong gió:

“Anh Thân…”

HẾT

(*) Xin đừng tái đăng, hãy chia sẻ!

@người theo dõi
#Truyenngan #Ma #Xoccheo #Angiang #Cham

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Ngọc Thuận - Cũng Có Lúc "Nóng"!

Sốc với "trò" của Mai Quốc Doanh