MỘT KIẾP HỒNG TRẦN - TRUYỆN LIÊU TRAI CỦA LÊ QUANG THANH TÂM

 


MỘT KIẾP HỒNG TRẦN

(Truyện ma miền Nam xưa)

Gia Định thành. Đêm rằm tháng Tám.
Trời mưa như trút, gió gào từng cơn. Trong khi khắp nơi người ta còn đang treo lồng đèn, bày cỗ cúng trăng, thì ở mé sông Bến Nghé, có bóng một người con gái mặc áo trắng, tóc dài bay theo chiều gió lộng, đứng lặng dưới gốc đa già.

Ánh chớp lóe lên soi gương mặt tái xanh, đôi mắt trũng sâu như chứa cả nỗi uất nghẹn trăm năm. Mỗi lần sấm dội, thân đa lại run lên như sợ hãi.

Tiếng hát ai oán vọng về từ cõi hư vô, lẫn trong màn sương mù mịt:

“Một kiếp hồng trần là hoa, là sương, hay là gió…
Nửa kiếp phiêu bạt là đau, là hận, hay là thương…”

Giọng hát như phát ra từ lòng đất, rồi tan vào tiếng mưa, khiến ai nghe qua đều nổi da gà.

Trời bỗng nổi sấm sét, mưa trút ào ào như xé toạc màn đêm. Người dân quanh vùng đồn rằng đó là hồn ma Thị Quyên – người con gái bạc mệnh, chết tức tưởi vì tình, hồn vẫn quanh quẩn về đây mỗi mùa trăng tròn, để báo ân, báo oán…

---

Năm Gia Long nguyên niên (1802), sau khi Nguyễn Vương thắng trận, lên ngôi tại Phú Xuân, cả nước mở hội ăn mừng.
Nhưng trong đội quân của Tả Quân Lê Văn Duyệt, có một chàng trai tên Tống Phước Minh, người Gia Định, thì mãi mãi không thấy quay về.

Tống Phước Minh vốn văn võ song toàn, con quan lớn trong triều, tướng mạo khôi ngô, lại có chí lớn.
Chàng đem lòng yêu Thị Quyên, con gái của một nhà buôn giàu có, nổi tiếng khu Bến Thành.

Thị Quyên sắc nước hương trời, giỏi nữ công gia chánh, tiếng thơm vang xa. Bao nhiêu trai tài đêm ngày mơ tưởng, nhưng nàng chỉ chọn một người: Phước Minh – kẻ mang trong tim chí lớn và mối tình đầu thiêng liêng.

Cả hai hẹn thề:
“Khi binh đao dứt, chàng sẽ trở về cưới em làm vợ.”

Nhưng thời cuộc xoay vần, chiến tranh kết thúc, mà Phước Minh biệt vô âm tín.

---

Một đêm, Thị Quyên mộng thấy chàng về, đứng đầu giường, nước mắt tuôn ròng – nhưng là lệ máu.
Gió từ cửa sổ thổi vào, ngọn đèn dầu chao đảo, mỗi giọt máu rơi xuống chiếu nghe như tiếng mõ xa xăm.
Chàng không nói một lời, chỉ nhìn nàng đau đáu, rồi tan vào bóng tối.

Thức dậy, lòng nàng lạnh buốt. Hương trầm bàn Phật tự dưng bốc khói dày, khói quấn quanh tấm gương soi thành hình người.

Sáng hôm sau, linh cảm chuyện chẳng lành, nàng khăn gói lên chùa Khải Tường, cúng Phật cầu an.

Vừa tới cổng chùa, qua rặng cây cổ thụ, sương phủ dày đến mức không thấy rõ lối đi.
Dưới tán cây, có tiếng ai rên khe khẽ, rồi lặng mất.

Nàng chợt thấy một ông lão râu tóc bạc phơ, ánh mắt mờ đục nhưng sâu thẳm như biết chuyện ba đời.
Ông nhìn nàng, chép miệng than:
“Người đi xa rồi, không trở lại… Đừng chờ nữa, con ơi…”

Thị Quyên hoảng hốt hỏi:
“Lão trượng nói vậy là sao? Người ấy… còn sống hay chết?”

Ông lão chỉ thở dài, tay lần chuỗi hạt:
“Duyên tới đó là hết. Buông bỏ đi, kẻo gieo nghiệp oan trái…”

Nói rồi, ông lặng lẽ bước vào rừng.
Một cơn gió lạnh thốc qua, lá rụng xào xạc. Nhìn kỹ lại – trên đất không hề có dấu chân.

---

Từ đó, Thị Quyên sinh bệnh. Thuốc thang đủ loại cũng không thuyên giảm.
Gia đình hoảng loạn, đành lo hậu sự dần.

Một chiều mưa gió, có một ni cô mặt phúc hậu ghé xin trú mưa.
Thấy gia chủ tiếp đón ân cần, ni cô nghe mẹ nàng than về bệnh tình con gái, bèn ngỏ ý:
“Nếu tin ta, xin cho đưa cô nương về am bên Thủ Thiêm, có thể cứu được.”

Gia đình như vớ được cọc, lập tức cử người “cộ” Thị Quyên ra bến, rồi theo ghe sang sông.

Am nằm khuất sau rặng tre, yên ắng lạ thường, như tách biệt khỏi cõi trần.
Ban ngày, sắc thuốc, đốt thang.
Đêm xuống, quanh am nghe tiếng mõ đều đặn, xen tiếng nức nở mơ hồ như vọng từ phía sau tường.

Có đêm, ngọn đèn trước Phật tự nhiên tắt phụt, rồi sáng lại – như có ai vừa đi qua.

Lạ thay, bệnh nàng thuyên giảm dần, rồi khỏi hẳn.
Nhưng lòng Thị Quyên đã chết. Phước Minh không về, tình yêu hóa thành tro tàn.

Một buổi sáng, nàng xin được xuống tóc, quy y tu hành, sống đời thanh đạm.

---

Khu Thủ Thiêm bấy giờ còn hoang vu. Cá sấu lội dưới sông, bầy trâu rừng kéo về uống nước mỗi chiều.
Dân cư thưa thớt, trong khi giặc Tàu Ô lộng hành, cướp bóc ghe thuyền, bắt người, đoạt của.

Tên tướng cướp Mã Tín nghe đồn am có “ni cô đẹp như tiên”, liền mò đến quấy phá.
Hắn muốn bắt Thị Quyên về làm vợ.

Để cứu cả am, nàng cắn răng theo hắn, đi biệt vào rừng sâu phía Đồng Nai, nơi có trại bè giữa sông, bốn bề sương phủ mịt mù, ban đêm nghe tiếng hú lạ như tiếng người than khóc.

Người dân quanh đó bảo, nước dưới bè lúc nào cũng có bóng người soi lên mặt sông – dù không ai ở đó cả.

---

Năm năm sau, Phước Minh trở về.
Hóa ra chàng không chết, chỉ bị kẹt trong chiến trận, rồi bận phò vua dẹp loạn.

Khi hay tin về Thị Quyên, chàng tức tốc tìm tới am.
Ni cô chỉ nói đúng một câu:
“Tiểu ni cô đã không còn ở đây. Cô ấy đã bị tướng cướp Mã Tín bắt đi rồi.”

Lúc chàng quay lưng đi, bỗng nghe tiếng mõ vang lên một hồi ngắn, dù không ai gõ.
Một cánh sen trên bàn Phật rơi xuống, cháy sém ở mép.

Phước Minh điên tiết, dẫn quân Gia Định tấn công sào huyệt giặc.

Một ngày, tám cửa thành Bát Quái rúng động, binh lính do Phước Minh chỉ huy kéo nhau đi về hướng ngã ba sông.
Cuộc chiến dữ dội, sấm nổ, cát bay, máu chảy thành dòng.

Giữa lửa khói, Phước Minh thấy lướt qua trước mặt bóng một người nữ áo trắng, tay bế đứa bé, rồi tan biến.
Sau đó, chàng tìm thấy đúng đứa trẻ ấy trong doanh trại giặc.

Cuối cùng, Phước Minh tiêu diệt Mã Tín, cứu được Thị Quyên và một đứa bé trai khoảng bốn tuổi – con của nàng với tên cướp.

---

Thằng nhỏ mặt sáng như trăng rằm, khôi ngô lạ thường, đôi mắt sâu thẳm, buồn như mang nỗi niềm kiếp trước.

Về tới Gia Định, Thị Quyên như kẻ mất hồn.
Gặp lại người xưa mà nay thân phận đã nhơ nhuốc, biết mình không xứng, nàng trao con cho Phước Minh, chỉ xin một lần quỳ tạ.

Đêm hôm đó, nàng mặc áo trắng, lặng lẽ đi tới gốc đa cửa Tây thành Bát Quái, buộc dải lụa hồng vào cành cây.

Gió rít qua mái ngói, từng cánh lồng đèn lay động, ánh nến chập chờn như muốn tắt.
Xa xa, trống hội Trung Thu còn vọng lại, xen lẫn tiếng trẻ con cười đùa giữa phố.

Trăng tròn treo cao, sáng đến lạ, rọi xuống thân đa thành vệt sáng bạc như tấm lụa.
Dưới gốc cây, bóng nàng hòa vào ánh trăng, trắng đến mức không phân nổi đâu là người, đâu là sương.
Một tiếng khóc trẻ con vọng xa, rồi im bặt.

Sáng hôm sau, người ta phát hiện nàng treo cổ, mặt bình thản như ngủ, chỉ có đôi mắt mở to nhìn về phía bên sông.

Người phát hiện kể rằng, khi họ lại gần, dải lụa hồng vẫn còn đong đưa, nhưng gió đã dừng.
Áo nàng khẽ lay như có bàn tay vô hình vuốt ve.

Gió cuốn áo trắng phất phơ như cánh bướm mùa thu, lồng đèn rơi rụng, trăng mờ mịt phía sau mây.

---

Nàng chết đúng vào đêm rằm tháng Tám – đêm Trung Thu, khi ánh trăng tròn soi sáng nhất trong năm.
Kể từ đó, người ta tin rằng mỗi mùa trăng ấy, cửa âm mở ra, để hồn nàng về giữa hai bờ nước – hát khúc sầu thiên cổ.

Từ đó về sau, đêm nào trăng tròn, người dân Bến Nghé thường thấy một bóng áo trắng lướt qua sông, tiếng hát ai oán như khóc, như cười, như trách:

“Một kiếp hồng trần là hoa, là sương, hay là gió…
Nửa kiếp phiêu bạt là đau, là hận, hay là thương…”

Người đi ghe đêm kể, có khi nước sông nổi sóng dù trời lặng; ai dừng chèo đều nghe tiếng bước chân trên mui ghe, rồi tiếng hát vọng xuống lòng sông.

Phước Minh giữ lời, nuôi đứa bé như con ruột, đặt tên là Tống Phước Duyên, chôn vùi bí mật về cha nó.

Về sau, lúc sắp mất, Phước Minh dặn con:
“Khi cha chết, nhớ chôn cạnh mộ mẹ con. Dù đời không cho sống cùng, thì chết cũng xin nằm kề.”

Hai ngôi mộ lặng lẽ nằm bên nhau, mặc cho thời gian và mưa gió bào mòn.

Khi Pháp phá thành Gia Định, mở con lộ dài nối Sài Gòn – Chợ Lớn, mộ phần bị quật lên.
Dân công san đất kể rằng, khi đào phần song mộ, hai chiếc quan tài đã mục, không còn vết tích, nhưng lạ lùng thay, họ thấy trong lòng đất có hai nắm xương như nằm chồng lên nhau, mà khi xúc lên, trời bỗng nổi gió.
Hai con bướm trắng bay vòng quanh ba lượt, rồi biến mất.

---

Nhưng những đêm rằm tháng Tám, nếu bạn có dịp đi ngang mé sông, hay phía cây đa ở công viên Bách Tùng Diệp - nơi xưa kia là cửa Tây Thành Bát Quái, hãy lắng nghe…
Có khi bạn sẽ thấy một bóng trắng thoắt ẩn thoắt hiện, và tiếng hát văng vẳng như gió thở than từ cõi u minh:

“Một kiếp hồng trần là hoa, là sương, hay là gió…
Nửa kiếp phiêu bạt là đau, là hận, hay là thương…”

Người già vùng Sài Gòn - Bến Nghé vẫn thường nói:
“Đêm Trung thu, đừng gọi tên ai bên sông…
Vì biết đâu, người đáp lại – chẳng còn thuộc về cõi này.”

HẾT

Võ Huyền Hân
#Truyenma #Saigon #Truyenmiennam #Giadinh #Macaydaxa #Kinhdi

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Ngọc Thuận - Cũng Có Lúc "Nóng"!

Sốc với "trò" của Mai Quốc Doanh