MA DA TRÊN DÒNG BÌNH TRỊ GIANG - TRUYỆN MA SÀI GÒN
MA DA TRÊN DÒNG BÌNH TRỊ GIANG
Truyện huyền sử – ma mị Nam BộLê Quang Thanh Tâm
---
Đầu thế kỷ mười tám, chỗ giao nhau giữa vùng Cầu Bông, Thị Nghè, Bình Trị còn là dải đất hoang sình lầy, sông rạch ngoằn ngoèo, dân Việt, Khmer, Minh Hương chen cư sống lẫn nhau.
Bình Trị Giang, nay gọi là rạch Thị Nghè, chảy uốn quanh những gò đất thấp, nơi người Khmer xưa dựng ngôi chùa Tiểu Thừa tên Chantarangsay, gần góc cầu Lê Văn Sỹ và Hoàng Sa ngày nay.
Hồi đó, vùng Phiên Trấn chỉ mới thành hình. Nguyễn Cửu Vân, tướng trấn thủ miền Nam của chúa Nguyễn Phúc Chu, đang đóng quân ở dinh Phiên Trấn để giữ đất, dẹp loạn biên giới với Chân Lạp.
Năm Ất Dậu, tức 1705, khi Chân Lạp nổi binh, Nặc Ông Thâm và Nặc Ông Yêm tranh ngôi, Nguyễn Cửu Vân được lệnh đem quân qua giúp.
Trên đường dẹp giặc Xiêm và hộ tống Nặc Ông Yêm về lại thành La Bích, ông cứu được một bé gái Khmer bị thất lạc trong loạn binh. Ông đem về nuôi, đặt tên theo tiếng Khmer là Sreynich. Người trong phủ quen gọi thân mật là nàng Hai.
---
Con gái Nguyễn Cửu Vân là Nguyễn Thị Khánh. Từ nhỏ, nàng sống trong gia đình quan quân, đọc kinh Phật, học chữ Hán, lại rành phong tục Khmer nhờ có nàng Hai kề bên.
Hai cô gái lớn lên thân thiết như ruột thịt. Một người gốc Việt, da trắng muốt, nết na. Một người Khmer, da ngăm, mắt sáng, tóc xoăn nhẹ, tính tình hiền lành.
Nàng Hai lớn lên giữa xứ Phiên Trấn, uống nước sông Bến Nghé, tắm mình trong nắng gió miền Nam. Từ thuở bé, nàng đã chơi đùa với lũ trẻ người Việt bên phủ, dần dà cũng biết nói tiếng Đàng Trong, biết ăn vận, vấn tóc như những cô gái vùng đất mới.
Nhưng quan trấn Nguyễn Cửu Vân chưa bao giờ để nàng quên cội nguồn. Ông thường sai người đưa nàng sang bên Cầu Bông, nơi có hành cung của vua Chân Lạp và những dòng họ Khmer cố cựu còn sinh sống.
Nơi ấy, các vị sư trong ngôi chùa Khmer dạy nàng chữ viết cổ khắc trên lá cây buông, gọi là Sa-tra. Thứ chữ thiêng liêng ấy viết bằng Khmer cổ hoặc Pali cổ, chỉ truyền trong chùa chiền và giới tăng lữ.
Nhờ vậy, nàng Hai tuy sống giữa phủ Việt nhưng vẫn giữ được hồn vía Khmer trong máu thịt, như hoa lài trắng giữa vườn cúc thược, vừa gần gũi vừa khác biệt.
Khi đến tuổi trưởng thành, Thị Khánh được gả cho một ông nghè trong vùng, nên dân gọi là Bà Nghè.
Sau khi lập gia đình, bà rời dinh Phiên Trấn, theo chồng ra vùng Thạnh Mỹ Tây, Phú Mỹ, bên dòng Bình Trị khai khẩn đất hoang trồng hoa.
Cả vùng ấy sau này được gọi là làng hoa Phú Mỹ, kéo dài từ bến đóng tàu Ba Son đến khu Văn Thánh ngày nay.
Nàng Hai đi theo, làm người thân tín, trông coi vườn hoa, điều dân Khmer ở khu vực Cầu Bông cùng trồng vạn thọ, cúc, thược dược, lài trắng, hoa cung Phật – cũng là hoa cúng Tết của người Việt.
Dẫu hai dân tộc có lối sống khác biệt. Người Việt quen dựng nhà ven sông, sống theo con nước. Người Khmer lại chuộng gò cao, gần chùa tháp cổ. Nhưng từ ngày người Việt vào Nam lập nghiệp, cả hai cùng cộng cư trong thuận hòa.
Người Khmer vốn là dân bản địa cố cựu, có làng mạc, chùa chiền từ lâu đời. Dấu tích ấy còn in trên những tháp đá rêu phong, chữ cổ khắc trên lá buông và mái chùa cong vút giữa đồng sình.
Không mấy khi có điều tiếng lớn. Họ cùng tin Phật, cùng dãi nắng dầm sương, trồng lúa, nuôi trâu, quăng chà bắt cá.
Vùng đất lắm trâu, nhiều cá sấu này dần thành xóm làng cũng nhờ vậy – nhờ những đôi bàn tay thuần hậu, chẳng phân chia giống nòi.
---
Bên kia bờ sông, cách làng Phú Mỹ hơn hai dặm, nơi dân Khmer cư trú, có ngôi chùa Tiểu Thừa dựng từ thế kỷ mười bảy. Mái ngói cong vút, tượng Phật tạc bằng sa thạch, hai bên có khỉ đá đứng chầu.
Mỗi khi đến Tết Chol Chnam Thmay, Bà Nghè đều sai nàng Hai chèo thuyền chở hoa qua chùa dâng cúng. Đó cũng là dịp để nàng gặp gỡ bà con Khmer sống quanh vùng Cầu Bông.
Trong ngày Tết ấy, nàng Hai gặp chàng Trần Thượng Lâm.
Chàng là người Minh Hương, thuộc dòng dõi tướng Trần Thượng Xuyên – vị công thần từng dẫn dân di cư từ miền Nam Trung Quốc sang xứ Đàng Trong, khai phá vùng Mỹ Tho ngày nay.
Trần Thượng Lâm xuôi ghe từ Mỹ Tho Đại Phố, buôn bán trái cây, gạo và vải vóc lên vùng Phiên Trấn.
Chàng tuấn tú, biết chữ Hán, hiểu phong tục Khmer, lại nói năng nhỏ nhẹ, lễ phép, ánh mắt hiền từ khiến nàng Hai không khỏi cảm mến.
Nàng cũng thấy tò mò về người thanh niên lạ. Một người chẳng phải Khmer, cũng không hoàn toàn là Việt, mà mang trong mình dòng máu Minh Hương hòa cùng nếp sống phương Nam. Một sự pha trộn của nhiều nền văn hóa nhưng lại rất gần gũi.
Khi biết nàng là người nhà của Bà Nghè, con quan Nguyễn Cửu Vân, chàng đến tận làng Phú Mỹ, lễ phép thưa:
“Sau chuyến này, tôi sẽ về thưa với song thân, xin đến vấn an Bà Nghè để cầu hôn, nếu người thương thuận.”
Nàng Hai nhìn chàng. Đôi mắt tròn trong như ánh sáng lấp lánh trên dòng Bình Trị. Lòng bỗng rộn ràng. Nàng chưa từng nghĩ đến chuyện yêu, nhưng trong phút giây ấy, chàng khiến nàng thấy ấm và yên.
Bà Nghè nghe chàng nói, mỉm cười dịu dàng:
“Chuyện duyên ta không ép. Nếu trời đất cho thuận, hoa sẽ tự nở.”
Chiều tà. Giữa những luống vạn thọ vàng rực, hai người đứng bên nhau, lặng nghe tiếng gió thổi qua. Trong lòng mỗi người chớm nở những hy vọng thầm kín về một ngày mai bên nhau, giữa miền đất nắng gió, nơi bấp bênh mà chan chứa tình người chân chất.
---
Vùng đất Nam Bộ thuở xưa có nhiều đạo tặc, cướp biển. Người Côn Man tha hương, người Xiêm, người Chà Và từ ngoài biển kéo vào, lập doanh trại, cướp bóc dữ dội.
Làng Phú Mỹ nằm ngay ngã ba sông, bốn bề thuận lợi cho cướp miệt dưới lên lẫn cướp từ biển vào.
Đêm nọ, khi cả làng hoa đang say ngủ, một toán cướp Chà Và chèo ghe ngược sông Bến Nghé tiến vào Bình Trị Giang.
Bọn chúng hung tợn, đốt trại, cướp của, bắt người. Thấy nàng Hai xinh đẹp lạ thường, chúng liền bắt đi. Dân làng không ai dám cản.
Sáng ra, chỉ còn vạt áo cháy sém và chiếc lược sừng gãy đôi bên bờ nước.
Nàng Hai mất tích. Dòng Bình Trị đục ngầu suốt mấy ngày liền.
Khi Trần Thượng Lâm trở lại, làng hoa tan hoang. Bà Nghè khóc cạn nước mắt.
Người ta đoán xác nàng theo con nước trôi về phía bến sông gần chùa Khmer, nhưng Bà Nghè cho người canh vớt, mấy ngày cũng chẳng thấy.
Có người nói: “Cô ấy bị quăng xuống sông mà không chết liền. Oan hồn chưa kịp rời nước.”
Đêm đó, chàng Lâm neo ghe ở bến Phú Mỹ, ngay ngã ba sông.
Gió nổi. Đèn dầu chập chờn. Cửa ghe khép mở liên hồi.
Hơi lạnh từ dưới nước bốc lên, mùi hương con gái thoảng trong khói nhang.
Rồi tiếng gọi khe khẽ:
“Thiếp lạnh... thiếp đau... sao chưa giữ lời hứa...”
Chàng nhìn ra, giữa sông có bóng thiếu nữ tóc dài, mặc xà rông trắng, đôi mắt như trăng ướt.
Chàng run rẩy, chưa kịp gọi thì ghe lắc mạnh, sóng vỗ, đèn phụt tắt.
Sáng ra, trên sàn ghe còn vệt nước in hình bàn tay nhỏ.
Hôm sau, ghe Trần Thượng Lâm trôi dạt vào bờ.
Chàng còn sống, nhưng trên cổ tay hằn dấu tím như bị ai nắm chặt.
Từ đó, chàng lẩn lút, ít nói, chẳng dám ra sông. Đêm nào nước lớn, chàng cũng nghe tiếng ai đó gọi dưới ghe.
Một tháng sau, khi con nước tràn lên làng Phú Mỹ, người ta chỉ thấy chiếc nón của chàng trôi lềnh bềnh. Còn chàng thì biến mất.
Có người nói, nàng Hai về đòi lời hẹn.
---
Bà Nghè nghe chuyện, cho lập trai đàn giữa hai chùa, Đại Thừa bên Việt và Tiểu Thừa bên Khmer.
Sư Việt tụng kinh A Di Đà.
Sư Khmer tụng kinh Pali cầu siêu.
Trên bờ, người Minh Hương đốt nhang đọc chú Quan Âm.
Ba tông, ba phái, hòa trong tiếng chuông và khói hương.
Khi kinh đến đoạn cuối, cơn gió lạ thổi, mặt sông cuộn sóng.
Giữa sương, người ta thấy bóng con gái bay từ dưới nước lên rồi tan biến vào mây trắng.
Sau trai đàn, dòng nước trở nên lặng.
Nhưng đêm đêm, người ta vẫn nghe tiếng phụ nữ khóc, và lạ thay, chỉ đàn ông chết đuối.
Dân trong vùng gọi đó là Ma Da Bình Trị, hồn trinh nữ hóa linh, bắt người thế mạng.
Thấy người chết quá nhiều, Bà Nghè cho dựng cầu gỗ ngang sông để người khỏi phải chèo ghe qua lại.
Cầu ấy về sau mang tên Cầu Bà Nghè.
Chiều nào bà cũng mang hoa cúc trắng và nén nhang ra giữa cầu, khấn:
“Nếu oan nghiệt đã dứt, xin Hai siêu sinh. Hoa Phật thay người, nước rửa nghiệp xưa.”
Từ ấy, khúc sông yên trở lại.
Dân qua sông, trước khi đi, đều thả một cánh hoa cúc trắng xuống nước, gọi là hoa độ hồn.
Dân khu Cầu Bông, Thị Nghè, Văn Thánh ngày nay vẫn kể nhau:
“Đêm rằm tháng Bảy, dưới cầu Bà Nghè, nếu thấy ánh trăng soi bóng cô gái chải tóc, đừng gọi. Hãy cúi đầu, niệm Phật.”
---
Đêm xuống trên dòng Bình Trị Giang, sóng lặng như tấm gương. Trên cầu Bà Nghè, hoa cúc trắng lả tả theo gió. Làn khói mỏng hiện lên dáng nàng Hai, tóc dài bay giữa trăng. Ma không hù dọa, chỉ nhắc nhở người qua sông: đây vẫn còn Sài Gòn xưa – dấu tích Cầu Bông, làng hoa Phú Mỹ, rừng cổ thụ của Thảo Cầm Viên xưa. Một hồn ma, một lời hẹn, một thành phố chưa quên.
Dòng Bình Trị Giang tiếp tục uốn lượn, ôm trọn mối tình buồn và bí ẩn, dấu tích không phai của những người đã sống, đã yêu và đã chết giữa miền đất sương gió, vẫn giữ trong tim niềm tin về một ngày mai thanh bình và ấm áp.
HẾT
Ghi chú: Theo chủ trương và chính sách của Đảng và nhà nước ta: Tôi ghi tên dân tộc nước Chân Lạp trong truyện này là người Khmer. Nếu theo lịch sử và tên gọi thông thường, dân Nam bộ gọi là người Cao Miên, nước Chân Lạp hoặc người Miên.
#Truyenma #Truyen #Mada #Madadongbinhtrigiang #Kinhdi #Nanghai #Thinghe
Truyện Cũ
Truyện Ngắn Hay
Trúc Khuê

Nhận xét