HỒN MA THẰNG TÂY MŨI LÕ - TRUYỆN MA SÀI GÒN

 


HỒN MA THẰNG TÂY MŨI LÕ


Truyện ma Sài Gòn xưa

Thành Gia Định, trung tâm nối miền Đông Nam Phần với miền Tây Nam Phần của Nam Kỳ, rúng động vào tháng Hai năm 1859. Ngày 2 tháng 2, tướng De Genouilly chỉ huy đoàn tàu chiến Pháp - Tây Ban Nha rời cửa biển Đà Nẵng tiến vào Nam. Trên đường, họ vừa tháo gỡ chướng ngại, vừa triệt phá mười hai đồn trại hai bên bờ, nên mãi đến chiều 15 mới tới ụ Hữu Bình. Đêm đó, pháo nổ dữ dội; quân Việt định dùng kế hỏa công nhưng bị phát hiện, quân Pháp bèn cho người lén đốt trước.

Sáng 16 tháng 2, bảy tàu chiến Pháp bắn phá liên hồi, quân Việt phải rút lui. Sáng hôm sau, 17 tháng 2, tàu chiến Pháp đã có mặt trước thành Gia Định. Nhờ sự chỉ dẫn của giáo sĩ Lefèbvre, họ nắm rõ địa hình và lực lượng phòng thủ. Một cánh quân đổ bộ theo con đường sau này gọi là Citadelle, dùng thuốc nổ phá thành. Đến khoảng mười giờ trưa, Hộ đốc Võ Duy Ninh ra lệnh lui quân, cùng Án sát Lê Từ tuẫn tiết tại thôn Phước Lý.

Dù thắng trận, quân Pháp không đủ lực giữ thành; ngày 8 tháng 3 năm 1859, họ phá hủy toàn bộ dinh thự, kho tàng, thóc lúa, khói bay nghi ngút suốt hai năm trời. Người ta kể rằng, chỗ gần nơi quân Pháp tấn công vào thành cũ, về sau mọc lên xóm Phú Mỹ.

Đất ở đó đỏ sậm, còn lẫn tro than. Mỗi khi mưa xuống, nước chảy ra đen ngòm, bốc mùi ngai ngái như khói thuốc súng còn vương lại. Ban ngày, xóm yên ắng, chỉ nghe tiếng ghe máy nổ giòn dọc sông Thị Nghè. Nhưng đến đêm, khi gió từ mé sông thổi lên, người ta lại thấy ánh sáng xanh lập lòe sau bụi cây: khi như lửa ma trơi, khi như ai cầm đèn đi trong mưa.

Lính tráng chết trận không ai khâm liệm, hồn phách vất vưởng quanh vùng. Những đêm mưa lớn, sấm đánh ngang trời, lại nghe tiếng giày lộp cộp, xen lẫn tiếng kim loại lẻng kẻng như lưỡi lê chạm súng dưới nền đất cũ.

Trong cuộc chiến ấy, có một sĩ quan người Tây Ban Nha tử trận. Quân Pháp đem chôn hắn tại làng Phú Mỹ, tổng Thạnh Mỹ Tây, tỉnh Gia Định. Trên mộ có khắc tượng con đại bàng tung cánh, cánh sải về hướng Tây như tìm quê nhà. Hồi nhỏ, tụi tôi mỗi lần đi ngang khu này, tới cái đoạn đường Ngô Tất Tố ngày nay là sợ lắm. Từ cây đa bên miễu tới Ủy ban phường 22, đêm nào cũng âm u, u tịch.

Ngôi mộ Tây to lớn, vuông vức, kiên cố, ẩn giữa đám cỏ hoang và cây dại, trông rờn rợn, nhất là những đêm mưa, khi ánh chớp hắt qua bia đá rêu phong. Người ta đồn rằng thằng Tây mũi lõ đó rất thiêng, hay hiện hồn trong những đêm gió mưa để nhát hoặc trêu ghẹo đàn bà con gái. Nó chết xa quê, không ai thăm nom, mỗi năm chỉ no được một ngày rằm tháng bảy, còn lại quanh năm đói khát, u uất. Một hồn ma viễn xứ, trôi sông lạc chợ, nghe mà cũng thấy tội nghiệp. Dân quanh vùng sợ, nhưng cũng thương. Họ bảo: “Ổng chết xa xứ, chắc còn nhớ nhà, nhớ con nhỏ nào bên Tây.”

Từ ngày ngôi mộ ấy được chôn, đêm nào khu đó cũng lập lòe ánh sáng xanh. Có khi như đốm lửa ma trơi, cũng có lúc như cặp mắt ai dõi qua màn mưa. Đêm gió lớn, người ta lại nghe tiếng giày nện trên nền đá, xen lẫn tiếng kim loại lẻng kẻng như lưỡi lê chạm súng.

Mấy bà bán hàng chợ chiều Phú Mỹ và chợ Thị Nghè thề rằng đã thấy một người đàn ông Tây cao lớn, da trắng bệch, mũi nhọn, mặc áo lính rách, vai đeo khẩu súng gãy, đứng dưới bóng cây đa hút tẩu thuốc. Hắn không nói, chỉ nhìn. Nhìn hoài cho đến khi người ta lạnh sống lưng mà bỏ chạy.

Một đêm mưa tầm tã, bà Hai Xôi, người bán xôi trước miễu, dọn hàng trễ, nghe tiếng gọi khàn khàn pha giọng Tây:
“Madame… xôi… nóng không?”

Bà quay lại, chỉ thấy một cái bóng ướt sũng đứng bên mộ, khói thuốc hòa trong hơi mưa. Sáng hôm sau, người ta thấy dấu giày lạ in trên nền sình: to và sâu như bàn chân đàn ông. Từ đó, dân quanh xóm dặn nhau: đừng đi ngang mộ Tây, đừng nói lớn tiếng, đừng nhìn ánh xanh… cãi lời là bị thằng Tây mũi lõ theo về.

Một đứa nhỏ con ông Sáu Thị Nghè kể: có lần nó đi lạc, gặp “ông Tây” cho kẹo, rủ về nhà chơi. Nó vừa nắm tay, liền lạnh buốt như chạm nước đá, hét lên rồi ngất xỉu. Khi tỉnh, nó nằm ngay đầu mộ, còn viên kẹo thì tan ra như máu đông.

Một hôm, thằng Tèo, con ông Ba Hợi, thằng nhỏ phá nhất xóm, bỗng nhiên mất tích. Mọi người túa đi tìm, mệt mỏi ngồi nghỉ thì nghe tiếng ú ớ trong mộ. Lại gần, thấy nó bị nhét trong hốc sâu, miệng nghẹt đất, người lạnh ngắt. Trong tay nó nắm chặt một vật đen xì: đó là cái nút áo đồng khắc hình đại bàng.

Người ta đổ nước gừng, thằng nhỏ bật dậy, giọng khàn như người lớn:
“Sao… sao tụi bây… phá mộ tao?”

Cả xóm hét ầm, mấy bà té xỉu. Thằng Tèo nhìn quanh rồi quay đầu ra hướng Thị Nghè, mắt vô hồn, bước đi giữa mưa mà không để lại dấu. Ba ngày sau, người ta thấy xác nó nằm ven sông, gần cầu Phú An, cách mộ đúng một trăm bước.

Từ đó, đêm mưa, ai đi ngang cũng nghe tiếng trẻ con khóc xen lẫn giọng đàn ông trọ trẹ:
“Petit garçon… về đi… về với tao…”

Ông Năm Tưng, người coi miễu, nói: hồn Tây không ác, chỉ cô độc. Nó nhớ quê, nhớ con trai bên Tây chưa từng gặp. Thấy thằng Tèo lanh lợi, tưởng là con mình đầu thai lạc xứ, nên mới gọi về.

Rồi một ngày kia, người ta phát hiện xác cô gái trẻ nằm trần truồng bên mộ. Cô Tư Mát trong xóm chạy đi lấy chiếu đậy lại, đốt nhang khấn khấn gì đó. Chiều hôm ấy, bả la lên:
“Tao trúng số rồi tụi bây ơi!”

Ai cũng đồn cô gái linh thiêng cho con số 13. Công an đem xác đi khám nghiệm, truy tìm hung thủ. Vài ngày sau, có hai thằng đàn ông mặt dữ như trai tứ chiến đến mộ Tây phủ phục khóc:
“Con lạy ông Tây, ông tha cho con, con sợ rồi.”

Hóa ra, bị ông Tây về nhát, chúng phải ra đầu thú vì tội giết cô gái. Đêm trước ngày ra tòa, cả hai phát điên. Một thằng cắn lưỡi, một thằng đập đầu vào tường.

Người gác đêm kể, đúng canh ba, mưa lất phất, thấy bóng người mặc áo lính cũ, ướt sũng, bước qua sân ủy ban phường, vừa đi vừa nhỏ nước, như mới từ rạch Văn Thánh bước lên. Sau vụ đó, mộ Tây được xây hàng rào gạch, sơn trắng.

Cô Tư Mát mỗi năm đều bày lễ cúng cô hồn ở đó, dặn ai đi ngang phạm lỗi thì khấn một tiếng. Từ ngày có bàn cúng, khu ấy bớt ma trơi, bớt tiếng khóc. Cô Tư làm ăn phát đạt, thường bảo:
“Ổng không dữ. Ổng chỉ sợ người ta quên ổng thôi. Ai nhớ tới, ổng thương.”

Mỗi khi mưa lớn, vẫn thấy ở đầu mộ ánh xanh lấp lánh: như lửa ma trơi, mà cũng như ánh mắt người lính xa quê, ngồi giữa Sài Gòn trông về trời Âu mù sương.

Ngày nay, nơi ấy là ngã tư Nguyễn Hữu Cảnh - Ngô Tất Tố, xe cộ nườm nượp, không còn dấu vết cỏ hoang. Người ta nói mộ đã được bốc dời về Tây Ban Nha, có quốc kỳ phủ trên quan tài. Thế nhưng, mấy tài xế khuya vẫn kể: thỉnh thoảng, nhìn gương chiếu hậu thấy bóng người đàn ông cao lớn, đội mũ sắt, khoác áo lính cũ, ngồi sau yên xe mà không nghe tiếng mở cửa. Có người nghe trong gió vang giọng Tây trầm buồn:
“Sài Gòn… vẫn còn mưa à?”

Rồi bóng ấy tan vào đêm. Người già Phú Mỹ - Thạnh Mỹ Tây vẫn bảo:
“Ổng đi rồi, mà hồn còn quanh đây. Mảnh đất từng chôn người, làm sao hết hơi người được.”

Cô Tư Mát, giờ bạc đầu, mỗi mùa rằm tháng bảy vẫn thắp nhang bên vệ đường, khấn khe khẽ:
“Ông Tây yên nghỉ nghe hôn, Sài Gòn này còn nhớ ông lắm…”

Và người ta nói, trong làn khói nhang nghi ngút, nếu nhìn kỹ, sẽ thấy mơ hồ bóng người lính Tây đứng nghiêm, giơ tay chào, giữa cơn mưa chiều muộn…

HẾT

Lê Quang Thanh Tâm

@người theo dõi

#Truyenmasaigon #Truyenma #Truyen #Honmathangtaymuilo

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Ngọc Thuận - Cũng Có Lúc "Nóng"!

Sốc với "trò" của Mai Quốc Doanh