HỒN MA ĐỒNG MẢ NGỤY - TRUYỆN LIÊU TRAI LÊ QUANG THANH TÂM
HỒN MA ĐỒNG MẢ NGỤY
Truyện ma Sài Gòn - Tác giả Lê Quang Thanh Tâm
Nằm ở phía tây bắc thành Phiên An xưa, khu Ngã Bảy ngày nay từng là một vùng đồng rộng mênh mông, hoang vu, được gọi là Đồng Tập Trận hay Mô Súng. Suốt nhiều đời, nơi đây chen chúc vô số gò đất, u mồ, tháp mộ, tạo thành một nghĩa địa bao la mà người Sài Gòn xưa quen gọi là Đồng Mả Mồ. Cánh đồng kéo dài dọc theo con đường chiến lược, nay là đường 3 Tháng 2, và bị cắt ngang bởi đường Cách Mạng Tháng Tám, tạo thành một khoảng đất rộng hàng dặm vuông, cằn cỗi, trống trải, đối lập hẳn với bóng cây rậm rạp của kinh Tàu Hủ hay các khu vườn trong thành.
Ngày trước, Đồng Tập Trận là nơi Nguyễn Vương và sau này là Tổng trấn Lê Văn Duyệt thường tổ chức duyệt binh, đấu voi, đấu ngựa, luyện tập côn quyền. Mỗi năm, sau Tết, ông Duyệt đều làm lễ rước và diễn tập quân lực tại đây: pháo lệnh nổ vang, voi ngựa thao diễn, quân lính biểu dương lực lượng. Cuộc duyệt binh vừa mang màu sắc chính trị, phô trương sức mạnh trấn giữ lục tỉnh, vừa mang yếu tố tâm linh, như một nghi lễ xua đuổi tà khí khỏi Gia Định.
Nhưng thời cuộc thay đổi. Sau cuộc nổi dậy của Lê Văn Khôi (1833 - 1835), mọi thứ ở Đồng Tập Trận hoàn toàn đổi khác.
Ban đầu, quân Khôi chiếm được thành Phiên An và nhiều tỉnh Nam Kỳ. Nghĩa quân gồm đủ thành phần: giáo dân, người Hoa, người Chăm, Khmer, các dân tộc Tây Nguyên, quân “Hồi lương - Bắc thuận”, cùng đông đảo dân lục tỉnh. Triều đình nhà Nguyễn phái các tướng Tống Phúc Lương, Nguyễn Xuân, Phan Văn Thúy, Trương Minh Giảng, Trần Văn Năng mang thủy bộ binh vào đàn áp. Khi nội bộ nghĩa quân bắt đầu chia rẽ, lại thêm tướng Thái Công Triều bất ngờ đầu hàng quân triều đình, lực lượng nổi dậy nhanh chóng suy yếu.
Năm 1834, Lê Văn Khôi chết vì bệnh. Con trai mới tám tuổi là Lê Văn Cù được đưa lên thay, giao cho bạn thân là tú tài Nguyễn Văn Trắm chỉ huy quân trong thành. Quân triều đình tiếp tục bao vây, chờ dịch bệnh, thiếu lương và tinh thần suy sụp làm kiệt quệ lực lượng trong thành.
Đến tháng 7 năm Ất Mùi (8.9.1835), tướng Nguyễn Tri Phương chia quân làm tám mũi tấn công ồ ạt. Sau bốn ngày đêm công kích, thành Phiên An thất thủ. Một trận tàn sát diễn ra. Già trẻ trai gái trong và quanh thành, tổng cộng có ít nhất là 1.831 người, bị giết sạch và chôn chung một hố lớn. Từ đây, Đồng Tập Trận biến thành “Mả Ngụy”, nơi mồ chôn tập thể những người bị triều đình xem là phản nghịch.
Những người cầm đầu như Nguyễn Văn Trắm, Lê Văn Cù, giáo sĩ Marchand và nhiều trọng phạm khác bị giải về Huế xử lăng trì. Riêng Nguyễn Văn Trắm tự sát trên đường giải đi, ông bị phanh thây, còn xương cốt Lê Văn Khôi bị đào lên, nghiền nát, vứt xuống các nơi để thị uy, riêng thủ cấp giải về Huế.
Từ đó, nơi từng là thao trường oai nghiêm trở thành một miền u tịch, thấm đẫm oán linh của hàng ngàn sinh mạng bị chôn vùi. Dân gian tin rằng từ những đêm sau trận tàn sát, đồng Mả Ngụy bắt đầu xuất hiện những bóng hình lẩn khuất, tiếng khóc than và những chuyện rợn người mà người Sài Gòn truyền tụng mãi về sau…
---
Thằng bé Lê Văn Cù, sau khi bị áp giải ra Huế và chịu án lăng trì, linh hồn nó không tan. Một đứa trẻ tám tuổi, chết tức tưởi giữa đất kinh kỳ xa lạ, không cha, không họ hàng, bị nhốt trong chiếc cũi sắt lạnh ngắt… cái oán khí ấy ngấm sâu đến tận xương tủy, biến nó thành một linh hồn lang bạt giữa cõi âm.
Người ta kể rằng khi lưỡi dao cuối cùng rạch xuống thân nó, một luồng gió lạ nổi lên, lạnh đến rợn tóc gáy. Đêm đó, lính canh ở nhà lao Thừa Thiên đều nghe tiếng trẻ con khóc thút thít đâu đó trong sân, càng đốt đuốc càng thấy sương mù dày đặc. Một người lính trẻ run bắn, thề rằng hắn thấy một cái bóng nhỏ, tóc xõa, đứng quay mặt vào tường, vai run lên như đang sợ hãi điều gì khủng khiếp.
Rồi hồn nó bay đi.
Nó không tìm đường siêu thoát. Thằng bé theo dòng gió bấc trôi dọc dải đất Trung Kỳ, vượt núi băng đồng, tìm về phương Nam: nơi mẹ và em gái bất hạnh của nó đã bị giết và vùi chung trong hố chôn tập thể ở đồng Mả Ngụy.
Ban đêm, khi trời làng Chí Hòa trở gió, những khói sương ma ám từ đồng trũng bay lên như đàn rắn trắng, người ta lại nghe tiếng khóc trẻ con quẩn quanh dưới những gốc cây đa lâu năm. Tiếng khóc vang lên từng hồi đứt quãng, non nớt như tiếng một đứa nhỏ bị lạc mẹ giữa chợ đời.
Dân xung quanh đại đồn Chí Hòa lúc bấy giờ đã quen. Cứ đến rằm tháng Bảy, nhà nhà bày đồ cúng, họ không quên bày thêm cháo loãng, muối gạo, nhang đèn ngoài hiên. Nhiều cụ già dặn kỹ:
"Cúng cho nó đi nghen. Đứa nhỏ tội lắm. Đừng nói lớn tiếng, đừng gọi tên nó ra, kẻo nó theo về nhà."
Thế nhưng, càng cúng, tiếng khóc càng rõ. Người ta nói nó không chịu ăn đồ cúng người đời, vì nó chỉ muốn tìm lại người thân đã bị chôn lấp không dấu vết. Có đêm, khi trời đổ mưa như trút, lớp đất ở Mả Ngụy hơi sụt xuống, người dân đi ngang đều nghe tiếng nức nở từ trong lòng đất vọng lên, lạnh đến mức khiến người mạnh vía nhất cũng phải nổi gai sống lưng.
Một bà già bán xôi sớm kể rằng, lúc ba giờ khuya, khi bà gánh xôi qua khu đất hoang, bà thấy một bé trai mặc áo rách, đứng co ro dưới gốc cây, hỏi:
"Bà ơi… bà có thấy mẹ con không?"
Bà lão run cầm cập, đánh rơi cả gánh xôi. Đến lúc bà ngước lên thì đứa bé đã biến mất, chỉ còn tiếng gió hú và mùi đất ẩm ngai ngái như từ lòng mộ phả lên.
Từ đó, dân trong vùng đồn nhau rằng: hồn Lê Văn Cù không chịu siêu thoát, vì giữa hơn một ngàn xác người bị vùi chung kia, nó không tìm nổi hài cốt của mẹ và em gái. Nó khóc vì nhớ, vì sợ, vì lạc lõng giữa cõi người và cõi âm.
Và cũng từ đó, những đêm mưa tháng Bảy ở đồng Mả Ngụy…
không ai dám bước ngang qua một mình.
---
Đến tận những năm 1930, khi Sài Gòn đã mọc lên nhiều dãy phố Tây, xe kéo leng keng chạy đầy đường, vậy mà hồn thằng Cù vẫn còn vất vưởng trên cánh đồng Mả Ngụy. Cái oán khí của nó như chẳng chịu tan, cứ quẩn quanh ở đó, đêm nào mưa cũng nghe tiếng trẻ con nức nở vọng ra từ những mô đất lẫn gò mồ cũ.
Ngay cạnh vùng đất hoang ấy, bọn Tây dựng một cái bót nhỏ để canh giữ khu ngoại vi thành phố. Vậy mà chẳng thằng lính Tây nào chịu gác đêm lâu hơn một tuần. Tụi nó kể lại với nhau bằng thứ tiếng Pháp cà lăm, mặt mũi tái mét:
"Có đứa nhỏ… đứng ngay cửa sổ bót… mắt nó trắng dã… nhìn tụi tao hoài!"
Mấy thằng tân binh thì cười phá lên, tưởng mấy đồng đội say rượu nói tầm bậy. Nhưng chỉ vài đêm sau, chính tụi nó gặp luôn.
Có thằng gác đêm nghe tiếng lộp cộp ngoài sân, tưởng đồng đội đi kiểm tra, liền mở cửa nhìn xuống. Thay vì thấy người, nó thấy một đứa bé chừng tám tuổi, quần áo ướt sũng, đầu cúi gằm, tóc xõa bết vào mặt. Đứa bé ngẩng lên, đôi mắt trắng đục, miệng mấp máy:
"Mẹ con… đâu rồi…?"
Thằng lính Tây hét lên một tiếng còn to hơn tiếng còi báo động, ngã ngồi ra đất, té đái ngay tại chỗ. Từ đó, lính trong bót sợ đến mức gác đêm cũng phải đi đôi, tay cầm súng, miệng đọc kinh và cầm thánh giá liên tục. Nhưng càng đọc, càng lạnh gáy, vì mỗi lần thằng Cù hiện lên là mưa dầm cả đêm, mưa dài như muốn xóa sạch dấu chân của nó trên mặt đất.
Dân quanh vùng Chí Hòa thì quá quen. Hễ thấy trời mưa đột ngột rả rích, mặt đất lạnh buốt như có ai đứng sau lưng thổi hơi là họ biết thằng Cù đang tìm mẹ. Tối đến, không ai dám đi ngang khu đồng hoang, dù chỉ một đoạn ngắn. Nhiều người khuyên nhau:
"Đừng nhìn lại phía sau. Nếu nghe tiếng gọi thì càng không được đáp."
Hồi khám Chí Hòa mới xây, cũng có nhiều dân anh chị giang hồ, hét trời uy đất. Nhưng đến đêm, đang ngủ là gặp thằng Cù nhát hoài: có khi nó biến thành một cái đầu to đùng, lúc ẩn lúc hiện; có khi nó nhe hàm răng, sún vài chiếc, cười khanh khách. Ai trong khám mà không biết chuyện hồn ma thằng Cù chứ.
Rồi theo năm tháng, thành phố mở rộng. Chính quyền thuộc địa bắt đầu quy hoạch, bốc mộ dời đi, san lấp các gò mồ cũ để làm nhà cửa. Những tháp mộ, bia đá, các ụ đất lẫn những dấu tích xưa của đồng Mả Ngụy đều lần lượt biến mất. Con đường ngày nay sầm uất, xe cộ tấp nập, ánh đèn điện sáng choang đến khuya.
Cũng từ đó, hồn thằng Cù không còn xuất hiện nữa.
Không còn tiếng trẻ con khóc trong mưa.
Không còn bóng trắng lom khom đi tìm mẹ giữa đêm khuya.
Không còn mưa dầm dề dai dẳng mỗi lần nó hiện hình.
Dân gian tin rằng khi các mộ phần được quy tập, xương cốt người trong Mả Ngụy được đưa về chốn thờ tự đàng hoàng, gia đình nó: mẹ nó, em gái nó, kể cả cha nó, chắc đã tìm lại được nhau bên kia cõi âm. Và thằng bé tám tuổi tội nghiệp ấy… cuối cùng cũng được dẫn đường mà siêu thoát.
Chỉ còn truyền thuyết lưu lại giữa lòng Sài Gòn:
Hễ đêm nào mưa dầm rơi trên khu Chí Hòa, người già vẫn bảo:
"Ờ… thằng nhỏ ngày xưa đó. Nó đi rồi, nhưng mưa vẫn nhớ nó."
HẾT
Ghi chú:
Vui lòng không sao chép hoặc đăng lại. Đây là truyện đã có người mua bản quyền.
Nếu bạn chia sẻ để lan tỏa đến nhiều người hơn thì mình xin chân thành cảm ơn!
@người theo dõi
#Truyenngan #Truyenma #Saigon #Manguy #Honmadongmanguy

Nhận xét