HỒN MA CHÀNG THƯ SINH ÁO TRẮNG - TRUYỆN MA SÀI GÒN
HỒN MA CHÀNG THƯ SINH ÁO TRẮNG
(Truyện ma Nam Bộ của Lê Quang Thanh Tâm)Hồi trước, cách nay cũng lâu rồi, nơi nay người ta gọi là khu du lịch Văn Thánh sầm uất, từng chỉ là một cù lao rợp bóng dừa nước. Khắp bề nước chảy trong xanh, dân gian thường gọi là Cù Lao Bảy Mẫu. Một bãi đất nổi giữa vùng trũng, được ba nhánh rạch nhỏ bao quanh, nhìn xa như cái mu rùa lềnh bềnh giữa biển nước.
Không xa đó là Văn Thánh Miếu Gia Định, nơi thờ Khổng Tử và các bậc hiền triết, được vua Minh Mạng cho dựng từ năm 1825. Phía Bắc là ruộng tịch điền – chốn Nguyễn Vương và sau này là Tổng trấn Lê Văn Duyệt thường cày khai xuân. Phía Tây là làng hoa Phú Mỹ, phía Nam là sông Sài Gòn, ghe thuyền xuôi ngược. Con đường gần nhất vào thành Phiên An là qua cửa Li Minh.
Đất đai màu mỡ, nước ngọt quanh năm, người dân sống bằng nghề nông, bắt cá, trồng trọt. Mà cũng vì đất lành nên ma quái cũng nhiều. Các câu chuyện huyền thoại về con người và vùng đất này vì vậy mà được lưu truyền đến hôm nay.
Thuở đó, đất còn hoang vu. Dưới sông, cá sấu thường rình rập. Trên bờ, có khi cọp vẫn mò về làng tha mất trẻ con. Riêng ma trơi thì không phải chuyện hiếm. Đêm đêm, ánh lửa lập lòe như hơi người âm thở ra, khi mờ khi tỏ. Dân Gia Định truyền nhau câu nói:
“Thấy ma trơi là thấy điềm chết.
Nếu thấy lửa xanh: người trẻ chết.
Lửa vàng: người già chết.
Mà ai nhìn thấy rõ mặt trong đóm lửa, thì người đó sắp theo sau.”
Sát mé kênh có nhà cha con ông Tư Kiên. Ông mất vợ, sống làm nông với đứa con gái duy nhất – tên Nguyệt.
Nguyệt tuổi mười sáu, sáng rực như ánh trăng rằm. Da trắng hồng, dáng người miền sông nước: đậm khỏe, đầy sức sống. Dân quanh vùng ai cũng khen con nhỏ đẹp.
---
Đêm ấy sáng trăng, Nguyệt trằn trọc không ngủ được. Gió đêm rít qua tàu lá, lùa qua mái lá dừa kêu rào rạt. Nhìn qua khe cửa, nàng thấy vài đốm lửa xanh lập lòe nơi gốc dừa sát mé rạch, khi mờ khi tỏ, như có kẻ đang thở phập phồng trong màn đêm.
Nguyệt rùng mình, kéo cửa lại, tay lần tràng hạt khấn Phật. Cả đêm không chợp mắt.
Sáng sớm, trời còn mờ mờ sáng, nàng ra mé rạch múc nước thì khựng lại. Một xác người trôi dạt vào bờ, nằm nghiêng, tóc phủ nửa mặt.
– Cha ơi… có người chết!
Ông Tư Kiên chạy ra. Đó là một thanh niên chừng đôi mươi, mặt mũi khôi ngô, da dẻ trắng xanh. Áo rách tả tơi, nhưng từng đường kim mũi chỉ vẫn còn phảng phất nét sang quý, như người từng theo đòi bút nghiên.
Dân trong xóm kéo tới, lý trưởng cũng được mời đến. Sau khi xem xét không thấy dấu hiệu bị hại, xác được chôn vội ở một mô đất nơi ngã ba rạch, gần Văn Thánh Miếu – nơi người xưa tin là giao lộ giữa cõi âm và dương.
Từ đó, chuyện lạ bắt đầu xảy ra...
Đêm đêm, ánh lửa ma trơi lại bay là là quanh mộ. Có lúc, người ta nghe tiếng sáo vẳng lên não nề, gió thổi qua như tiếng khóc ai oán vọng về từ lòng đất.
Rồi có người quả quyết thấy một thư sinh áo trắng, tay ôm sách, tóc xõa ướt sũng, ngồi lặng thinh trên mộ như đang chờ ai.
– Trời đất ơi, tui thấy rõ ràng… nó nhìn tui… mà mắt hổng có tròng! – một bà bán hàng ngoài chợ kể, mặt xanh lét như tàu lá chuối.
Từ đó, chó tru suốt đêm. Người trong vùng không ai dám đi ngang khu đất ấy sau khi mặt trời lặn.
---
Một đêm mưa giông, sấm sét đùng đùng, gió thốc tung phên lá. Bỗng có tiếng gọi trước hiên:
– Có ai trong nhà không… cho tôi trú mưa một đêm…
Một thư sinh mặc áo đen, ướt sũng, dáng điệu lễ độ, tay mang lều chõng và chiếu. Trước ngực, đeo một ống tre nhỏ gọi là “ống quyển”, dùng để đựng bài thi.
Chàng thư sinh cuối nhẹ đầu.
Ông Tư Kiên mở cửa:
– Trời mưa bão như này, vào nhà mà tránh mưa đi, chú em.
Chàng xưng tên Lê Tuấn, từ đồng Ông Cộ lên Gia Định thi Hương, mong đỗ Cử nhân để mở đường lập thân, nhưng chưa tìm được chỗ trọ.
Ông Tư Kiên gật gù:
– Nếu không chê, thì ở tạm căn chòi sau vườn. Cơm rau có nhau, qua cơn túng thiếu.
Lê Tuấn cảm ơn, từ đó ở lại.
Ngày thường, Lê Tuấn ít xuất hiện. Đêm nào cũng chong đèn học đến tận khuya. Ánh sáng leo lét trong chòi, khi mờ khi tỏ, in bóng người nghiêng nghiêng như không thật.
Nguyệt chăm sóc cơm nước, hai người dần nảy sinh tình cảm. Tuấn đọc thơ, viết đối, có đêm thổi sáo buồn như khóc.
Một hôm, ông Tư Kiên đang vấn thuốc rê, nhìn đôi trẻ nói:
– Nó mồ côi, không ai thân thích. Con thương thì cha gả.
Hôn lễ đơn sơ, chỉ mâm cơm cúng tổ tiên, vài nhà láng giềng làm chứng.
Từ sau ngày cưới, Nguyệt xanh xao thấy rõ, sợ nắng, ăn uống ít. Nhưng đêm đến thì sắc diện lại đẹp lạ thường: gò má hồng hào, môi ửng đỏ như người vừa bước ra từ giấc mộng.
---
Một hôm Nguyệt đến Văn Thánh Miếu, cầu cho chồng thi đỗ.
Ở góc sân có một đạo sĩ già, tóc bạc như mây trắng, đang đốt trầm. Ông nhìn Nguyệt hồi lâu rồi hỏi khẽ:
– Cô ở với ai?
– Dạ… chồng con… thi Hương.
– Không. Cô sống với thứ không phải người.
Ông đưa cho nàng một lá bùa vàng:
– Dán lên bàn thờ ông Thiên trước sân.
– Có gỡ không?
– Tuyệt đối không được gỡ. Khi nào nó lộ mặt, trời sẽ nổi giông.
Nguyệt đem về, làm theo.
Đêm đó, trời nổi giông dữ dội. Lê Tuấn đang học bài thì ôm đầu rên rỉ, rồi ngã vật xuống, mắt đỏ như máu. Nguyệt hoảng hốt đỡ chồng, nhưng anh ta lạnh ngắt như xác chết.
Từ mé rạch, hàng chục đốm ma trơi bay về, xoay vòng quanh mái nhà.
Một tia sét giáng thẳng xuống bàn ông Thiên, chỗ dán lá bùa.
Lê Tuấn bật dậy, ánh mắt vô hồn, thân người cứng đờ như xác không hồn. Chàng lảo đảo bước ra giữa mưa, mặc cho Nguyệt vừa khóc vừa gọi.
Chàng biến mất vào bóng đêm, không bao giờ quay lại.
Sáng hôm sau, dân làng phát hiện ngôi mộ cũ bị nứt, áo quan vỡ làm đôi. Không có xác người, chỉ còn lại một ổ rắn hổ mang và một lớp da lột vương máu tươi.
Lý trưởng nhìn rồi rùng mình:
– Rắn chúa… lột xác… có khi… đội lốt người cũng nên...
---
Từ đó, Nguyệt im lặng như kẻ mất hồn. Nhưng bụng nàng mỗi ngày một lớn.
Người làng xầm xì:
– Nó thèm cóc xanh, khế chua, nước vo gạo... ăn hoài hổng đã thèm. Thèm chi mà kỳ cục dữ!
– Có bầu kiểu đó... chắc hổng phải người đâu à nha!
Mưa dầm triền miên. Nước lũ ngập tràn mé nhà. Chín tháng mười ngày. Đêm Nguyệt trở dạ, trời lại giông gió, y như đêm Tuấn biến mất.
Nàng sinh trong đơn độc. Mỗi cơn đau như xé toạc người.
Tiếng hét xé màn đêm…
Không phải một đứa trẻ.
Mà là một đàn rắn đen, thân nhỏ bằng ngón tay, mắt đỏ lừ, lổn nhổn bò khắp nhà.
Nguyệt thét lên rồi ngất lịm.
Ông Tư Kiên chạy vào, đứng chết trân. Đàn rắn bò theo dòng nước lũ, trườn ra khỏi nhà, lặng lẽ quay về hướng ngôi mộ nứt, rồi biến mất vào màn đêm mịt mùng.
Chẳng ai còn thấy chúng nữa.
---
Sau cú sốc đó, Nguyệt như hóa điên, chiều chiều ra ngồi thẩn thờ bên cạnh ngôi mộ hoang. Nàng thầm thì như nói chuyện cùng ai. Dân làng nói nàng nói chuyện với âm hồn, với lũ con rắn.
Những năm vùng này bị nạn chuột đồng hay châu chấu quấy phá, lạ lùng thay, ruộng nhà ông Tư Kiên chẳng cần chăm sóc vẫn xanh tốt, và không hề thấy bóng dáng con chuột đồng nào. Người ta nói: lũ rắn con của Nguyệt đã canh vòng quanh đất của mẹ tụi nó mà giết chuột.
Khi ngài Tổng trấn Lê Văn Duyệt mất, con trai nuôi gây ra loạn Lê Văn Khôi. Cả vùng nằm sát thành Phiên An nên trở thành chiến địa, xóm làng xơ xác. Từ năm 1833 đến 1835 là hai năm chiến tranh loạn lạc, thành Phiên An bị vây, buôn bán và trồng trọt đều bị triều đình xiết chặt.
Kỳ lạ thay, nhà ông Tư Kiên vẫn bình an, như có làn khói mây mù bao phủ, thoát khỏi mọi cuộc binh biến. Vẫn nằm sừng sững và thầm lặng, vượt qua bao cơn biến loạn.
Một đêm nọ, Nguyệt lại nằm mơ và thấy Lê Tuấn hiện về. Trong giấc mơ, chàng nói:
– Sáng mai ra mé kênh, cứu vớt một đứa bé trai. Nó là dòng cao quý, được dân trong thành thả trôi sông với hy vọng thoát khỏi sự trừng trị giết sạch của vua Minh Mạng. Cứu nó, sau này sẽ có nơi nương tựa, rạng danh vùng miền.
Nguyệt chợt tỉnh giấc, nằm suy nghĩ miên man. Tiếng gà gáy báo canh ba, trời sắp sáng.
Khi ánh bình minh vừa ló dạng, Nguyệt ra mé kênh: nơi ngày xưa gặp xác chết đuối của chàng trai xấu số. Nàng nghe tiếng khóc nhỏ, một bé trai đang nằm trong một lồng tre thả trôi, đã cập vào mé nước. Thằng bé mở to mắt khi Nguyệt vớt nó lên, rồi khẽ cười và ngủ ngon lành sau đó.
Nguyệt đem về, cùng cha là ông Tư Kiên giấu và chăm sóc, nuôi nấng đứa nhỏ.
Đứa trẻ ấy sau này, khi lớn lên, vang danh thiên hạ. Trở thành một danh tướng trong hàng ngũ của quan Nguyễn Tri Phương, nắm giữ đại đồn Chí Hòa, chống giặc Phú Lang Sa, bảo vệ quê cha đất tổ trước họa xâm lược của thực dân.
---
Ngày nay, ai đi ngang cầu Phú An hoặc tuyến Metro số 1 Bến Thành – Suối Tiên, khi qua khu vực chùa Văn Thánh, ngước nhìn về phía tượng Mẹ Quán Thế Âm cao lớn, sừng sững giữa trời, vào những đêm tối trời, mưa to, gió lớn, nếu có duyên, sẽ nghe được tiếng sáo du dương, lúc trầm lúc bổng, buồn như ai oán văng vẳng đâu đây, gợi nhắc về một câu chuyện huyền bí: mối tình giữa ma và người, giữa rắn và nhân.
HẾT
#Truyenma #Saigonxua #Giadinh #Ran #Honmachangthusinhaotrang
@nêu bật

Nhận xét