DUYÊN TÌNH “CHỊ BÚA” - TRUYỆN LIÊU TRAI LÊ QUANG THANH TÂM
DUYÊN TÌNH “CHỊ BÚA”
Truyện ma Sài Gòn - Tác giả Lê Quang Thanh Tâm
Trên khoảng đất Khám đường ngày trước (nay là Thư viện Khoa học Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh) và Tòa Án mới, xưa có một ngôi chợ mang tên chợ Cây Da Còm.
Trong các chợ xưa ở Sài Gòn, chợ Cây Da Còm (Khung Dung thị) được xem là chợ cổ và nổi tiếng nhất. Phía nam trấn, dưới chân cổng bắc thành, bên hữu có một cây da cổ thụ, rễ riềng buông rủ, tán lá sum sê phủ đến nửa mẫu đất. Thương nhân tụ họp dưới bóng cây ấy mà thành chợ. Lúc đầu canh tư, người ta đã rộn ràng chuẩn bị, đèn đuốc sáng rực. Người đội, kẻ gánh rổ bí, mớ rau đến nhóm ở đầu chợ phía tây. Đến sáng, đầu chợ phía đông lại bày cá thịt và các hàng hóa mới.
Cây da cổ thụ này tuổi ước vài trăm năm. Thân cây lớn, phải vài người ôm mới xuể; tán rộng đến vài chục mét, nhiều nhánh sà xuống như những cánh tay thõng dài. Có một nhánh rễ cái to bằng vòng tay một người ôm. Ngay dưới gốc là ngôi miếu Ngũ Hành.
Chợ Cây Da Còm từ đường Chợ Lớn ra chợ Bến Thành, lan đến ngoài chợ Đũi.
Hoàng tử Hy là con trai thứ hai của Nguyễn Vương Nguyễn Phúc Ánh, sinh năm Nhâm Dần (1782). Hy không thư sinh nho nhã như anh cả Cảnh, nhưng đẹp trai, phong độ, tinh anh, tính tình nghiêm nghị khiến ai cũng nể. Hy có một chiếc búa bằng đồng, mỗi lần ra ngoài đều sai người mang theo, nên dân gian gọi Hy là Phủ công, hoặc thân mật gọi là “chị Búa”.
Ngày Tết Nguyên Đán, Hy mặc đồ đẹp, có gia nhân cầm búa theo, tay bồng em Đảm, tay dắt em Tuấn, vào chúc tết cung Quốc Mẫu, cung Đích Mẫu Nguyên Phi và các hậu phi của Nguyễn Vương. Sau đó Hy dạo quanh Gia Định giữa tiếng pháo rộn ràng, giữa sắc vàng của cúc, vạn thọ, mai. Ai gặp cũng cúi đầu:
“Dạ chào Phủ công!”
“Dạ chào chị Búa!”
Khi đi ngang chợ Cây Da Còm, Hy dừng lại vì nghe tiếng đàn và tiếng hát bi ai của một kỳ nữ bên cạnh ông già mù. Cô gái Minh Hương xinh đẹp tuyệt trần, giọng hát như rót vào lòng người. Chung quanh có vài thanh niên vừa nghe vừa trêu ghẹo.
Từ ánh mắt, giọng ca đến nét đoan trang của nàng khiến lòng Hy xao động. Hy thưởng tiền cho hai cha con. Dò hỏi, Hy biết cô gái tên Tiểu Mai, 16 tuổi, quê Xóm Lò Gốm, Chợ Lớn. Cha nàng bị mù, mẹ vừa mất vì bệnh. Hai cha con đi đàn hát xin ăn, lại vì Tiểu Mai không chịu làm vợ bé của một hào phú nên phải bỏ xứ.
Hy đưa hai cha con vào cung, bẩm với Nguyên Phi Tống Thị Lan xin giữ Tiểu Mai làm hầu gái. Hy mất mẹ từ nhỏ, được Nguyên Phi nuôi nấng cùng hoàng tử Cảnh. Khi Cảnh sang Pháp, Nguyên Phi càng thương Hy như con ruột.
Lúc ấy Hy khoảng 17 - 18 tuổi, đang giữ chức Khâm sai Cai đội. Tiểu Mai ở trong cung, làm việc lặt vặt và đàn hát cho Hy nghe. Được chăm chút ăn mặc, nàng càng lộ vẻ mặn mà quyến rũ. Không ai nói ra, nhưng Tiểu Mai chẳng khác gì vợ của Hy, vì trong cung hoàng tử chưa có Nguyên phi. Hai người thương nhau sâu đậm.
Mùa đông năm Mậu Ngọ (1798), Chưởng tiền quân Tôn Thất Hội mất. Nguyễn Vương cho chọn người giữ chức Nguyên Súy; các tướng xin cử Hy, nhưng Vương dụ: “Hy còn trẻ, chưa tập việc quân, ta không thuận.”
Hy và Tiểu Mai vẫn an vui ở Gia Định. Nàng tận tụy chăm sóc Hy.
Những ngày Hy ở Gia Định là quãng thời gian êm đềm nhất đời chàng. Buổi sáng Hy luyện võ trong sân. Mỗi lần dứt một đường quyền, quay lại đều thấy Tiểu Mai đứng lấp ló sau hiên, tay ôm đàn, mắt nhìn chàng lặng lẽ như nước giếng cổ. Mỗi khi Hy bắt gặp ánh mắt ấy, nàng đỏ mặt cúi xuống chỉnh dây đàn, như thể bản nhạc cần nàng chăm chút lắm mới nên.
Buổi chiều, khi nắng ngả sang màu mật ong, Tiểu Mai trải một tấm chiếu dưới giàn hoa giấy trong vườn, ngồi đó đàn những khúc Minh Hương buồn mà đẹp như sương khói. Hy chẳng nói nhiều, chỉ ngồi bên, đôi khi nhắm mắt, đôi khi lặng nhìn những ngón tay thon mềm của nàng lướt trên dây. Có lúc đang đàn, Tiểu Mai ngừng lại:
“Cậu Ba nghe có… chán không?”
Hy bật cười:
“Ta chỉ sợ nàng đàn hoài đến khi ta già cũng không chịu ngừng.”
Tiểu Mai cắn môi, cúi đầu, đôi tai đỏ ửng khiến gia nhân phải cười thầm.
Đêm xuống, ánh đèn lồng thắp sáng. Tiểu Mai pha cho Hy chén trà nóng. Dù không biết chữ, nàng lại khéo đến mức chỉ nhìn sắc mặt Hy là biết hôm ấy chàng vui hay buồn, nhẹ nhõm hay mệt mỏi. Có hôm Hy từ cơ mật viện về, mặt nặng ưu tư vì tình hình ngoài Diên Khánh nguy cấp. Tiểu Mai chỉ đặt tay lên vai Hy, không nói. Cử chỉ nhẹ như gió nhưng đủ khiến Hy thôi căng thẳng.
Trong những lúc hiếm hoi được ngồi chỉ có riêng hai người, Hy kể chuyện thuở nhỏ. Tiểu Mai nghe chăm chú như đứa trẻ. Có đoạn vui nàng che miệng cười, mắt cong như trăng non. Có đoạn buồn nàng đặt tay lên mu bàn tay Hy:
“Cậu Ba cực nhiều rồi…”
Hy nhìn nàng thật lâu rồi nói khẽ:
“Từ lúc gặp nàng… ta thấy lòng mình yên lại.”
Nàng nghe mà mắt long lanh, nhưng không dám để Hy thấy. Nàng cúi xuống gảy một tiếng đàn thật khẽ như lời đáp.
Trong cung ai cũng biết Hy thương nàng như thương vợ chưa cưới. Mỗi khi Tiểu Mai bệnh nhẹ, Hy bỏ cả công vụ để chăm. Khi nàng nhớ mẹ mà buồn, Hy dẫn nàng đi dạo trong vườn, cho nàng dựa vai khóc một chút rồi cười lại.
Đó là những ngày bình yên hiếm hoi giữa thời loạn. Không ai nói ra, nhưng ai cũng thấy rõ: hai người như đã nợ nhau từ kiếp trước.
Khi Nguyễn Vương trở lại Gia Định, Nguyên Phi Tống Thị Lan dẫn Tiểu Mai vào ra mắt. Nghe hoàn cảnh và sự tận tụy của nàng, Nguyễn Vương rất hài lòng.
Năm Kỷ Mùi (1799), Nguyễn Vương thân chinh đánh Quy Nhơn, lưu Hy lại trấn thủ Gia Định cùng Nguyễn Văn Nhơn và các tướng. Đây là thời gian hạnh phúc nhất của Hy và Tiểu Mai. Nhưng hạnh phúc ngắn ngủi: lệnh khẩn truyền về, Hy phải ra Vũng Tàu.
Đêm chia tay, Hy nói:
“Ta đi kỳ này về sẽ xin mẫu thân lập nàng làm thiếp.”
Tiểu Mai khẽ đáp, mắt đỏ:
“Em biết phận mình, chẳng mong tước vị, chỉ mong được ở gần cậu Ba.”
Năm Canh Thân (1800), Hy được sai quản suất Tiền chi và vệ Cung Võ dinh Trung quân, đi thuyền ra Vũng Tàu rồi chia quân tuần biển. Mùa hạ, Hy theo Nguyễn Vương đánh Quy Nhơn. Khi đến cửa biển Cầu Huân, Hy được lệnh trấn Diên Khánh, rồi đóng quân tại bảo Hội An. Sau đó, Hy được triệu vào hành tại khi xa giá Nguyễn Vương về Cù Mông (Phú Yên).
Gia Định lúc này liên tục tang thương: đức cha Bá Đa Lộc mất, rồi dịch đậu mùa cướp đi hoàng tử Tuấn và Đông Cung Cảnh. Nguyên Phi Tống Thị Lan đau buồn, không thiết ăn. Tiểu Mai ngày đêm hầu hạ Nguyên Phi, lại phụ An Duệ Hoàng Phi Tống Thị Quỳnh chăm hai con thơ của Đông Cung.
Cha Tiểu Mai cũng mất vì dịch. Nàng bơ vơ một mình.
Năm Tân Dậu (1801), ngày 15 tháng 12 âm lịch, Đông Cung Cảnh mất. Đến ngày mùng 9 tháng 4 âm lịch, hoàng tử Hy bị quân Tây Sơn giết khi đang trông coi việc quân, hưởng 19 tuổi. Hy được truy tặng Đặc tiến Phụ quốc Tướng quân, Thiếu úy Quận công, thụy Đôn Mẫn.
Nghe tin, Tiểu Mai ngất lịm. Nàng không còn người thân. Nén đau, nàng lo tang cho Hy. Nàng không ăn uống, chỉ ngậm vài lóng mía cầm hơi chờ mãn 49 ngày.
Một đêm, khi Gia Định chìm trong giấc ngủ, Tiểu Mai đến gốc cây đa chợ Cây Da Còm, nơi lần đầu gặp Hy, rồi thắt cổ quyên sinh. Nàng muốn đi theo Hy sang cõi u minh hơn là sống vật vờ không ý nghĩa.
Sáng hôm ấy mưa lớn, chợ không họp. Đến chiều, dân mới phát hiện thi thể nàng. Dưới gốc đa, nàng nằm đó, mặt đẹp như đang ngủ, mi khép hờ, tóc đen rủ sang một bên.
Tang lễ của Tiểu Mai được tổ chức trang nghiêm, dân Gia Định đến đưa tiễn. Cái chết ấy khiến cả thành Bát Quái thương xót.
Nhưng với những người thương nàng nhất, cái chết chưa phải là kết thúc.
Có những đêm, nhất là khi trăng tròn, tại gốc đa nơi nàng chết, người ta nghe tiếng đàn, tiếng hát ngân nga trong gió. Âm thanh ấy là giọng Tiểu Mai thuở sống: buồn bã mà chan chứa yêu thương. Từ đó, không ai dám đến gần gốc đa vào ban đêm.
Dân đồn Tiểu Mai chết trong uất nghẹn vì mối tình dang dở, nên không siêu thoát. Nàng vẫn tìm Hy. Người ta mang đồ cúng đến gốc cây, đông đến mức Nguyễn Vương phải ra lệnh cấm vì ưu tiên lớn nhất lúc đó là chiến sự với Tây Sơn.
Một đêm trăng sáng, khi các quan đang họp trong cung, đèn vụt tắt, bóng tối bao trùm. Từ hư không, tiếng đàn tì bà vang lên, trầm bổng như lời cầu cứu của linh hồn chưa siêu sinh.
Trong bóng tối, một hình dáng mờ ảo hiện ra: Tiểu Mai. Nhưng nàng không như trước. Da tái nhợt, mắt trừng trừng, môi mấp máy lời than:
“Hy… cậu Ba… sao cậu bỏ tôi lại? Sao không tìm tôi?”
Có người kể thấy bóng nàng lướt trên mặt nước, tóc bay trong gió, trôi về phía điện Trung Chính rồi tan vào sương. Tiếng đàn theo gió vọng mãi.
Từ đó, bóng ma Tiểu Mai xuất hiện khắp Gia Định. Đêm đêm nàng về gốc đa, vái lạy như tìm Hy. Có người thấy nàng ôm chiếc búa đồng, vật Hy luôn mang theo.
Nàng hiện vào giấc mơ Nguyên Phi Tống Thị Lan, nói lời chưa kịp thổ lộ, than cho tình chia lìa. Nguyên Phi chỉ lặng nghe, mắt nhòe lệ.
Có người thấy nàng đứng trên chiếc thuyền nhỏ trôi trên sông Sài Gòn, hướng về thành Bát Quái, nơi có cung thất của Hy. Trong bóng tối, nàng giơ cao chiếc búa đồng như lời thề, nhưng không thể đến gần vì linh hồn bị ràng buộc.
Dân tin nàng mãi đợi Hy. Họ nói rằng những đêm trăng, đứng đúng chỗ bên bờ sông sẽ nghe tiếng đàn tì bà xa vắng, giọng hát buồn len qua gió. Ai lỡ nghe sẽ thấy lòng nặng trĩu, như thể nàng đang gọi họ, mong được siêu thoát để đoàn tụ cùng người yêu.
Sau khi Hy và Tiểu Mai mất, chiếc búa đồng của Hy, vật nàng vẫn ôm khi thành ma quỷ, được tìm lại. Điều kỳ lạ là lưỡi búa vẫn sáng bóng, không hoen gỉ dù phơi mưa nắng nhiều ngày. Người hầu kể mỗi đêm đến gần chiếc búa đặt trong gian thờ tạm của Hy, họ nghe tiếng “leng keng” rất nhẹ, như ai gõ khẽ vào đồng. Có đêm gió không thổi, búa vẫn rung nhẹ.
Một lần, khi Nguyên Phi Tống Thị Lan thắp nhang cho Hy, bà thấy trên lưỡi búa in một dấu tay nhỏ của phụ nữ, mờ như sương rồi tan biến chỉ trong khoảnh khắc. Bà hiểu đó là dấu tay của Tiểu Mai.
Lời đồn lan rộng, Nguyên Phi đến chùa Từ Ân, quốc tự Gia Định, hội ý Thiền sư Phật Ý - Linh Nhạc. Sau đó, Nguyên Phi mời sư cùng đệ tử đến Cây Da Còm lập đàn giải oan, siêu độ cho Tiểu Mai. Trên mâm bày lễ vật và cây búa đồng.
Thiền sư ngồi xuống tụng niệm rất lâu, đến tận khi đêm phủ kín.
Khi câu chú cuối vừa dứt, chiếc búa đồng trên mâm lễ bỗng tự xoay nhẹ, hướng về phía bóng Tiểu Mai đang hiện. Ánh trăng chiếu xuống lưỡi búa, phản chiếu thành vệt sáng kéo dài như sợi tơ mỏng nối hai thế giới.
Một bóng hình mờ ảo hiện ra: Tiểu Mai. Lần này ánh mắt nàng dịu dàng, không còn buồn đau. Nàng mỉm cười:
“Cảm ơn Đại sư… cảm ơn vì đã giúp tôi tìm lại đường gặp Cậu Ba để trao lại cây búa.”
Linh hồn nàng cúi chào lần cuối. Ánh sáng quanh nàng run lên rồi tan vào không khí như sương hòa vào đêm. Ánh trăng sáng lóa như dấu hiệu nàng đã được giải thoát.
Từ hôm đó, không ai còn nghe tiếng đàn hay tiếng hát của Tiểu Mai nữa. Nhưng câu chuyện về nàng vẫn được truyền lại như lời nhắc về một mối duyên tình vĩnh cửu.
Dân Gia Định kể rằng, từ đó về sau, mỗi khi trăng tròn rọi xuống gốc đa xưa, lưỡi búa trong điện thờ lại ánh lên một vệt sáng mảnh, tựa dáng một cô gái buông tóc. Người ta tin rằng đó là lúc Tiểu Mai và Hy được gặp nhau trong cõi u linh.
Ngày nay khu vực ấy vẫn còn vài cây da cổ, có lẽ là dấu vết của chợ Cây Da Còm xưa. Cây đa lớn nhất nằm ở công viên Bách Tùng Diệp, trước Bảo tàng Thành phố Hồ Chí Minh, với bốn cụm rễ lớn; một cây khác bên hông Bảo tàng và hai cây nữa đối nhau qua đường Nguyễn Du, trong khuôn viên Tòa Án và Dinh Thống Nhất.
HẾT
@người theo dõi
#Truyenma #Nguyenphuchy #Nhanguyen #Giadinh #Masaigon #Duyentinhchibua

Nhận xét