BÓNG MA NỮ SINH TRÊN CẦU SỞ THÚ - TRUYỆN MA SÀI GÒN
BÓNG MA NỮ SINH TRÊN CẦU SỞ THÚ
Truyện ma Sài Gòn của Tác giả Lê Quang Thanh Tâm
Trường Phú Mỹ cũ ngày trước nằm sát con rạch Thị Nghè, đối diện bên kia sông là chuồng voi của Thảo Cầm Viên. Bên trường có một cây cầu bê tông cong nghiêng, bắc ngang rạch, nối làng hoa Phú Mỹ xưa với Thảo Cầm Viên.
Mặt sau trường Phú Mỹ rộng thênh thang, vắng lặng, chỉ có một dãy nhà ngói làm lớp học. Mỗi khi mưa to gió lớn, âm thanh vang rền rợn người. Sấm chớp đì đùng, gió lùa, mưa giật như muốn cuốn cả mái ngói đi.
Ma ở đây nhiều lắm. Ma từ thời biến loạn Tây Sơn tàn sát người Hoa; ma của hơn hai ngàn người trong thành Gia Định bị xử chém sau loạn Lê Văn Khôi; ma từ khi Phú Lang Sa tấn công thành Gia Định; và gần nhất là những oan hồn năm 1957. Năm đó, trên cầu Thị Nghè xảy ra vụ chen lấn khi dân đi xem hội chợ, khiến mười bảy người chết, hàng chục người bị thương. Nguyên do, nghe má tôi kể, thì lãng xẹt lắm: có một thanh niên bị rách quần, la lên “sập cầu”, khiến mọi người hoảng loạn. Chen lấn theo đó, cầu xém sập, tai họa xảy ra. Hai đầu cầu sau đó được rào kẽm gai, còn giữa cầu dựng một bức tường ngăn, không cho ai qua lại nữa.
Hồi đó, nhà tôi ở nhờ nhà bác Ba ngay dưới gầm cầu. Lũ trẻ tụi tôi chẳng sợ gì. Tụi tôi trèo tường “chùa” đi qua Sở Thú chơi, khỏi mua vé. Có khi trèo lên cầu, phóng mình xuống làn nước trong xanh bên dưới để tắm. Nước trong, cá bơi từng đàn; cá thòi lòi nhiều vô kể, chẳng ai thèm bắt. Còn bây giờ, mỗi lần đi ngang cầu Nguyễn Hữu Cảnh nhìn dòng nước nơi cây cầu xưa, tôi phát ớn: đen ngòm, không ai dám xuống tắm.
Ban đêm là lúc rùng rợn nhất. Xung quanh tối om, đen kịt. Ngồi học bài khuya, tôi thấy nhiều chuyện lạ lùng. Có đêm, tôi thấy dáng cô gái bận áo dài trắng, nhìn như nữ sinh Gia Long, ngồi đọc sách trên cầu. Tóc xõa dài, không nói gì. Đôi khi tôi cầm đèn pin bước qua hàng rào, đến nơi thì chẳng còn ai, chỉ nghe gió lùa qua vai lạnh thốc tận xương tủy.
Thời đó nước ngọt hiếm. Muốn có nước “phông tênh” để xài, tụi tôi phải gánh ở vòi công cộng của trường Phú Mỹ. Chỉ nhà tôi mới được lấy thoải mái vì má làm trong ban giám hiệu. Ban đêm, đi ngang dãy lớp tối om, đôi khi thấy bóng như cô gái bay qua bay lại, nhìn mà tim muốn rụng. Những chuyện đồ đạc biến mất linh tinh do cô giỡn cho vui xảy ra hoài. Có lần, tìm hoài không thấy đòn gánh, chị em tôi khệ nệ khiêng hai thùng nước đầy về; quay lại lấy tiếp mới thấy nó nằm chình ình ngay vòi nước.
Chị Hai tôi nói:
“Tụi bây thấy không, cổ về giỡn đó.”
Tôi cười:
“Xạo hả. Cổ nào giỡn. Chắc thằng nào rảnh rỗi giấu đòn gánh cho vui.”
Thiệt tình, tôi không sợ ma. Có lúc còn thầm nói trong bụng: ma nào thì hiện ra cho tôi coi thử ma ra sao.
Một đêm kia trời lặng gió, trăng non mỏng như lá lúa trải xuống rạch Thị Nghè. Tôi ngồi học ngoài hiên, nghe tiếng nước vỗ vào cọc cầu như có ai gõ nhịp. Ban đầu tôi nghĩ cá quẫy, nhưng càng nghe càng giống tiếng bước chân. Chậm rãi, từng bước một.
Cầu đã rào, nửa đêm ai mà đi. Tôi đứng dậy, cầm đèn pin men theo bờ tường, bước ra gần mép nước. Gió thổi lạnh mà khô. Tiếng bước chân vẫn đều, hình như đang tiến về phía tôi.
Ngước lên, trên cầu là bóng trắng đứng im. Lúc đầu tưởng khói, nhưng nhìn kỹ, áo dài phất nhẹ theo gió, tóc buông như dải lụa đen. Lần này cô không quay lưng mà nhìn thẳng xuống. Mặt trắng nhợt, đôi mắt sâu buồn như mang cả nỗi oán hờn của hai trăm năm bỏ lại.
Tôi nghe giọng cô rất nhỏ, thoảng qua:
“Tôi lạnh.”
Chưa kịp phản ứng, toàn thân nổi da gà. Đèn pin phụt tắt chẳng biết nguyên do. Khi tôi bật lại, bóng cô đã biến mất. Trên cầu chỉ còn tiếng gió rít qua bức tường xi măng và tiếng bước chân rời rạc đi xa về phía chuồng voi.
Sáng hôm sau, tôi vào Thư viện Tổng hợp lục báo cũ và tư liệu về vụ chen lấn. Lật từng trang, bỗng dừng lại khi thấy một cái tên con gái lạ mà quen: Nguyễn Thị Phúc Ngọc Minh. Tên mềm mại, nữ tính, phảng phất tiểu thư gia đình danh giá.
Về nhà, lòng tôi bồn chồn. Xin má ít tiền để mua đồ cúng cô hồn, tôi thầm nghĩ: nếu Nguyễn Thị Phúc Ngọc Minh thật sự là cô gái áo trắng đêm qua, mong cô cho một dấu hiệu ngay trên cầu để tôi biết không nhầm.
Chiều tối, trời âm u, mây nặng trĩu. Tôi bưng mâm cúng gồm nhang đèn, tiền vàng bạc, bánh kẹo, trái cây, lén vượt hàng rào bước lên cây cầu xi măng rêu phong. Dưới chân, phiến xi măng lạnh ngắt như vừa có ai bước qua.
Tôi đặt mâm sát bức tường, nơi tối hôm qua cô đứng. Tay run run châm ba cây nhang. Khói bay mỏng và lạnh, chẳng giống bình thường.
Chắp tay, tôi nói nhỏ:
“Cô Minh, nếu linh thiêng, xin cho tôi biết… có phải cô là người hiện ra đêm qua không. Tôi không quấy rầy, chỉ muốn hiểu chuyện.”
Gió thổi mạnh, nhang nghiêng như bị ai hít mạnh. Tôi đứng yên, rùng mình. Chợt nghe tiếng nước dưới rạch khẽ vỗ, rồi thứ gì đó rơi xuống sông. Quay lại, không có ai.
Cúi xuống mâm cúng, tôi giật thót. Trên dĩa bánh kẹo, một dấu tay nhỏ bằng đất bùn in rõ từng ngón, mảnh và thon như tay con gái. Tôi lùi lại, tim thình thịch. Bàn tay lạnh ngắt, nhẹ như chỉ vừa khẽ chạm. Gió thổi, lần này ấm, khác hẳn cái lạnh trước. Tiếng thở dài nhỏ, yếu ớt vang lên.
Giọng con gái đêm hôm qua lại vang lên, rõ hơn chút:
“Cám ơn.”
Quay phắt lại: không ai, chỉ bức tường chắn rêu cũ. Mùi nhang đổi lạ, thoang thoảng mùi nước hoa nhẹ.
Khi gom mâm cúng ra về, nhìn xuống lòng rạch, dòng nước lững lờ. Giữa khoảng nước dưới nơi cô đứng tối qua, mặt nước gợn lên thành vòng tròn đều như có ai vừa bước xuống.
Khuya, tôi học bài rồi ngủ thiếp trên bàn. Trong giấc mơ, cô hiện về, áo dài trắng, tóc xõa, gương mặt buồn như sương đêm. Cô nói:
“Trước đây, mỗi khi cúng cô hồn hay lễ Tết, nhà tôi đều có người đem đồ cúng. Nhưng từ ngày cả nhà đi Mỹ, tôi chẳng còn ai ghé cúng. Tôi đói liền mấy năm, toàn phải đi giựt, đi cướp đồ cúng. Hôm nay được em cúng, tôi mới no. Cám ơn em nghen.”
Giọng nhỏ, nhẹ như gió qua bụi trúc, nghẹn lại. Tôi thấy rõ đôi mắt cô long lanh, ánh buồn quắt queo của linh hồn đói lạnh lâu năm.
Cô cúi sát bên tai tôi, hơi thở lạnh chạy từ ót xuống sống lưng:
“Em đừng sợ. Tôi không hại ai. Tôi chỉ buồn… và cô độc quá.”
Tiếng nước nhỏ từng giọt rơi trên nền xi măng nghe như ai khóc âm thầm. Tôi muốn đứng dậy nhưng người nặng như bị vật gì đè. Căn phòng tối sầm, chỉ còn gương mặt cô hiện mờ sáng như sương. Mùi nước hoa thoang thoảng trộn với nhang.
Cô nhìn tôi lâu, giọng van xin:
“Em giúp tôi một chuyện được không. Chỉ có em thấy tôi, chỉ có em nghe tôi. Mấy chục năm rồi, tôi chưa yên.”
Cô đưa tay như muốn chạm vào vai tôi, nhưng chỉ lướt qua một chút. Toàn thân tôi lạnh buốt.
“Xác tôi… không mất tích như người ta nghĩ đâu. Tôi có oan khiên cần kể cho em nghe…”
Sáng hôm sau, trời âm u như sắp mưa. Tôi trở lại cầu Sở Thú, cầu bỏ hoang, bức tường chắn loang lổ rêu xanh. Tôi chắp tay khấn:
“Cô Minh… chỉ đường cho tôi đi.”
Gió thổi mạnh, lá me rụng xoay vòng từ đầu cầu dẫn xuống đường đất cũ cạnh trường. Tôi men theo hàng rào, bước xuống lối đất nhỏ ra mé sông, nơi ít ai bén mảng. Cỏ um tùm, rậm rịt, gốc một cây bần già sần sùi như sống cả trăm năm.
Cúi xuống, một con cá thòi lòi bật lên làm bùn văng trúng mũi chân. Trong vệt bùn, tôi thấy một mảnh vải trắng mục gần hết. Vạch lớp bùn, là chiếc trâm cài tóc bạc khắc hoa văn mềm mại: Ngọc Minh.
Tôi ngồi phịch xuống đất, nghẹn lại. Cô Minh không chết do bị giẫm đạp trên cầu như hồ sơ ghi. Trong hỗn loạn, cô bị xô ngã xuống mép cầu, trôi vào gốc bần và không hiểu sao lại kẹt trong hốc rễ cây, mất tích luôn. Không ai biết, không ai tìm thấy xác. Người ta chỉ biết cô chết vì cô có mặt trên cầu hôm đó.
Không tìm được xác, nên mỗi năm lễ, Tết hay dịp cúng cô hồn, gia đình cô đều đến cầu mà cúng. Cô bơ vơ, đói, lạnh… suốt mấy năm nay, nhất là sau khi người nhà của cô sang Mỹ năm 1975.
Tôi gom trâm, lau sạch bùn, mang đến trình thầy trụ trì chùa gần đó. Thầy trầm ngâm:
“Hóa duyên của cô với cõi trần còn sót. Con đưa thầy đến, thầy sẽ làm lễ siêu độ.”
Chiều hôm ấy, thầy và chú tiểu tụng kinh ở mé rạch. Khói nhang bay ngược gió, mặt nước lặng phắc như chiếc gương khổng lồ. Giữa dòng, tôi thấy ánh trắng mờ của áo dài, tóc cô buông, gương mặt thanh tú, hiền lành. Cô nhìn tôi, nở nụ cười nhẹ như khói sương, chắp tay cúi đầu.
Tôi nghe trong đầu:
“Cám ơn em.”
Bóng áo trắng tan, hòa vào mặt nước, trôi đi nhẹ như chưa từng hiện diện. Gió ấm, lá me rụng trôi về Thảo Cầm Viên như lời tiễn biệt.
Đêm đó tôi ngủ sâu. Không mơ, không nghe tiếng gọi, không còn hơi lạnh. Từ hôm ấy, tôi không còn thấy cô nữa. Nhưng mỗi lần qua cầu Nguyễn Hữu Cảnh, nhìn dòng nước xưa, tôi vẫn nhớ ánh mắt buồn của cô, cảm giác lạnh mà dịu, rợn mà thương.
Tôi tin, nhờ chút duyên may, chút lòng người, cô Minh cuối cùng đã tìm được đường về.
HẾT
#Truyenma #causothu #Thaocamvien #Truyenngan
@người theo dõi

Nhận xét